Bài giảng Ngữ văn 7 - Văn bản: Ông Đồ

pptx 22 trang Người đăng Mạnh Chiến Ngày đăng 01/12/2025 Lượt xem 7Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 7 - Văn bản: Ông Đồ", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Thịt 
mỡ, Cây 
dưa nêu, 
hành, tràng 
câu đối pháo 
đỏ. ,bánh 
 chưng 
 xanh. Văn bản 
 Vũ 
 Đình 
 Liên I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả- Tác phẩm
 - Tác giả: vũ đình Liên (1913 – 1996) là 1 
 trong những nhà thơ lớp đầu tiên của 
 phong trào thơ mới.
 - Tác phẩm: Ông Đồ là bài thơ tiêu biểu 
 của tác giả.
 2. Đọc, chú thích Trong một thời gian dài suốt mấy trăm 
năm, nền Hán học và chữ Nho chiếm một 
vị thế quan trọng trong đời sống văn hóa 
Việt Nam.
 Học trò học chữ Nho. Chế độ khoa cử 
 phong kiến dùng 
 chữ Nho
Cảnh trường thi 
năm 1895 Các nhà nho là nhân vật trung tâm của đời 
sống văn hóa dân tộc, được xã hội tôn vinh. Ông đồ là người Nho học nhưng không đỗ đạt, 
sống thanh bần bằng nghề dạy học Theo phong tục, khi 
Tết đến, người ta sắm 
câu đối hoặc một đôi 
chữ nho viết trên giấy 
đỏ dán lên vách, lên 
cột vừa để trang hoàng 
nhà cửa ngày Tết, vừa 
gửi gắm lời cầu chúc 
tốt lành. Ông đồ được thiên hạ tìm đến, ông có dịp trổ tài.
Chữ của ông được mọi người trân trọng, thưởng thức. Ở thành phố, khi giáp Tết xuất hiện những ông 
 đồ bày mực tàu giấy đỏ bên hè phố, viết chữ 
 nho, câu đối bán. Nhưng rồi chế độ thi cử chữ Hán bị bãi bỏ 
(1915), chữ nho bị rẻ rúng.
Trẻ con không còn đi học chữ nho của 
các ông đồ nữa mà học chữ quốc ngữ 
hoặc chữ Pháp.
“Ông đồ chính là cái di tích tiều tuỵ đáng 
thương của một thời tàn”(Vũ Đình Liên) I. Tìm hiểu chung: Mỗi năm hoa đào nở
 Lại thấy ông đồ già
1. Tác giả- Tác phẩm Bày mực Tàu, giấy đỏ
2. Đọc, chú thích Bên phố đông người qua
3. Kết cấu - bố cục : Bao nhiêu người thuê viết
 Tấm tắc ngợi khen tài:
 - Phần 1: Khổ 1,2: “Hoa tay thảo những nét
 Như phượng múa, rồng bay”
 => Hình ảnh Ông Đồ 
 thời đắc ý. Nhưng mỗi năm mỗi vắng
 Người thuê viết nay đâu?
 - Phần 2: khổ 3,4: Giấy đỏ buồn không thắm
 => Hình ảnh Ông Đồ Mực đọng trong nghiên sầu...
 thời tàn. Ông đồ vẫn ngồi đấy
 - Phần 3: khổ cuối: Qua đường không ai hay
 Lá vàng rơi trên giấy
 =>Tâm tư của tác Ngoài trời mưa bụi bay
 giả
 Năm nay đào lại nở
 Không thấy ông đồ xưa
 Những người muôn năm cũ
 Hồn ở đâu bây giờ? II. Đọc hiểu văn bản: Mỗi năm hoa đào nở
 1. Nội dung: Lại thấy ông đồ già
 a/ Hình ảnh Ông Đồ trong thời đắc ý: Bày mực Tàu, giấy đỏ
 * Mùa xuân năm xưa : Bên phố đông người qua
 - Khung cảnh mùa xuân tươi tắn , sinh động và Bao nhiêu người thuê viết
 sắc hoa đào nở không khí tưng bừng náo nhiệt . Tấm tắc ngợi khen tài:
- Ông đồ đắt khách : Bao nhiêu người “Hoa tay thảo những nét
=> Có tài, được trọng vọng . Khổ thơ đầu gợi lên Như phượng múa, rồng bay”
 Lúccho bấy em giờ cảnh mọi mùa 
 - Tết là dịp ông đồ trổ tài và được khenContài: ngườiHoa tay đón... nhận 
 ngườixuân cóông trên thái bởi đất độ điều Bắc gì gì là ? 
 = > Ông đồ trở thành một hình ảnhđốimột vớikhông mùaôngthể đồxuân ? Và như 
 bấy giờ ông đồ là gì 
 thiếu trong nét đẹp văn hóa truyền thốngthế nàodân? tộcTìm các chi 
 Khi chế độ PK bị bãi trongtiết mắt nói lênmọi điều người đó ?
 . bỏ thì hình ảnh ông ?
 đồ lúc đó như thế 
 nào? b. Hình ảnh ông đồ trong thời tàn:
 Nhưng mỗi năm mỗi vắng * Mùa xuân hiện tại :
 Người thuê viết nay đâu? - Câu thơ thấm đượm nỗi buồn xa vắng.Xác định thời 
 Giấy đỏ buồn không thắm - Thời gian tuần hoàn , mùa xuân trở lạigianvẫn hoa, không 
 Mực đọng gian được nói 
 đào , vẫn phố xưa .
 trong nghiên sầu... Hìnhđến trong ảnh ông 2 khổ đồ 
 trongthơ khổ thơ 
 - Cuộc đời đã thay đổi , ông đồ vẵnnàyngồi n bên
 Ông đồ vẫn ngồi đấy hư thế nào 
 phố trước sự lạnh lẽo của cảnh vật và “ qua?
 Qua đường không ai hay
 đừơng không ai hay” Ông thực sự đã bị bỏ rơi.
 Lá vàng rơi trên giấy
 Ngoài trời mưa bụi bay Trong 2 khổ thơ 
 tác giả đã sử 
 ÔngHình đồ ảnh vẫn “ ngồilá 
 dụng biện pháp 
 vàngđó, vậyrơi, ôngmưa ngồi bụi 
 nghệ thuật nào ? 
 bay”,đó để thể làm hiện gì ? 
 Tác dụng của 
 điều gì ?
 biện pháp nghệ 
 thuậ đó ?  Nghệ thuật: Nhưng mỗi năm mỗi vắng
 + Câu hỏi tu từ -> sự hụt hẫng, xót xa Người thuê viết nay đâu?
 + Tương phản đối lập Giấy đỏ buồn không thắm
 + Nhân hóa => Nỗi cô đơn hiu hắt, nỗi Mực đọng 
buồn xót xa thấm vào cảnh vật. trong nghiên sầu...
 Ông đồ vẫn ngồi đấy
 Qua đường không ai hay
 + “Lá vàng”: tàn tạ Ẩn dụ, Lá vàng rơi trên giấy
 + “Mưa bụi”:ảm đạm, thê lương tả cảnh Ngoài trời mưa bụi bay
 ngụ 
 tình
 => Nền Nho học suy tàn, ông đồ hiện lên 
 hết sức đáng thương. b. Hình ảnh ông đồ trong thời tàn:
 Nhưng mỗi năm mỗi vắng - Hình ảnh ông đồ trơ trội, lạc lỏng, tội nghiệp giữa dòng đời
 Người thuê viết nay đâu?
 trôi chảy  Đó là 1 hình ảnh xót xa, thông cảmNêu trongcảm nghĩsự tàn tạ.
 Giấy đỏ buồn không thắm
 của em về số 
 Mực đọng 
 phận của ông đồ 
 trong nghiên sầu... => Tác giả đồng cảm sâu sắc với nổi lòng tê tái của ông đồ
 tiếc thương cho một thời đại văn hóa đã đi qua?. 
 Ông đồ vẫn ngồi đấy
 Qua đường không ai hay
 Lá vàng rơi trên giấy
 Ngoài trời mưa bụi bay 7/ Hãy so sánh 
 sự khác nhau 
  Thiên nhiên vẫn giữa 2 hình ảnh 
 tồn tại, đẹp đẽ và bất trong 4 khổ thơ 
 biến; con người thì trở đầu và hình ảnh 
 thành xưa cũ, vắng ông đồ?
 bóng. c. Tâm tư tác giả:
 Năm nay đào lại nở
Sự mai một những giá trị truyền thống là vấn Không thấy ông đồ xưa
đề của đời sống hiện đại được phản ánh Những người muôn năm cũ
trong những lời thơ tự nhiên và đầy cảm xúc. Hồn ở đâu bây giờ ?
 QuaBài khổthơ nàythơ này,tác 
 taQuagiả thấy thể đây hình hiện ta thấy ảnhtình 
 Câutáccảmông giả hỏi đồgì là đượctuđối người từ với 
 toátmiêunhư lênông tả thếđiều như đồ nào? ?gì thế ? 
 nào ? 2. Nghệ thuật:
-Viết theo thể thơ ngũ ngôn hiện đại .
-Xây dựng những hình ảnhBàiđối thơlập này. tác 
-Kết hợp giữa biểu cảm giảvà tả sử,kể dụng. nghệ 
-Lựa chọn lời thơ gợi cảm xúcthuật nào?
- Ẩn dụ,so sánh,nói quá, tả cảnh ngụ tình .
3.Ý nghĩa:
 Qua văn bản, tác
 Bài thơ thể giảhiện muốnsâu sắc gửitình cảnhgấm đáng 
 thương củađến ôngngười đồ vàđọc niềmđều cảm 
 thương, nuốigì ?tiếc của tác giả đối với 
 một lớp người, một nét văn hoá truyền 
 thống tốt đẹp của dân tộc. Việc xin chữ đầu năm lâu nay đã có và ngày một thịnh hành, nó 
đang trở thành phong tục đẹp của người Việt Nam mỗi độ xuân về Tết 
đến. Tại Hà Nội, việc này diễn ra ở nhiều nơi: trong nhà riêng của một 
số thầy đồ có tiếng văn hay chữ tốt, trên đường phố nơi có khoảng hè 
rộng rãi và nhiều người qua lại. Chỗ có vẻ ấn tượng nhất là trước sân 
Văn Miếu, khoảng hè phố đường Bà Triệu, đoạn giao cắt với đường 
Trần Hưng Đạo... Xin chữ là một nét đẹp văn hóa cần phát huy. Chỉ 
một chữ treo trước mặt mà có ý nghĩa về đạo đức và đời sống đối với 
những con người cụ thể sẽ giá trị hơn nhiều những lời nói sáo rỗng.

Tài liệu đính kèm:

  • pptxbai_giang_ngu_van_7_van_ban_ong_do.pptx