Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án HƯỚNG DẪN CHI TIẾT I. ĐỌC HIỂU Câu 1: - Đoạn văn trên được trích từ văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta. - Tác giả: Chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu 2: - Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận. Câu 3: - Xác định câu rút gọn: "Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến." - Thành phần được rút gọn: Chủ ngữ (Chúng ta). - Tác dụng: + Làm cho câu văn ngắn gọn, súc tích, tránh lặp từ (vì câu trước đã nhắc đến "Bổn phận của chúng ta"). + Nhấn mạnh vào nội dung nhiệm vụ, hành động cần thực hiện. + Tạo giọng điệu mệnh lệnh, kêu gọi một cách trực tiếp, mạnh mẽ đến mọi người. II. TẬP LÀM VĂN (7.0 điểm) Đề bài: Chứng minh đời sống bị tổn hại lớn nếu không có ý thức bảo vệ môi trường. 1. Dàn ý gợi ý A. Mở bài: - Dẫn dắt: Môi trường là ngôi nhà chung, là nguồn sống duy nhất của con người. - Nêu vấn đề: Nếu con người không có ý thức bảo vệ môi trường, cuộc sống sẽ phải đối mặt với những tổn hại vô cùng nghiêm trọng. B. Thân bài: * Luận điểm 1: Tổn hại về sức khỏe con người. - Ô nhiễm không khí (khói bụi, khí thải) gây ra các bệnh về đường hô hấp, ung thư. - Ô nhiễm nguồn nước dẫn đến các bệnh về tiêu hóa, da liễu. - Thực phẩm bẩn do đất và nước ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ. * Luận điểm 2: Tổn hại về kinh tế và tài nguyên. - Biến đổi khí hậu gây thiên tai (lũ lụt, hạn hán) làm thiệt hại mùa màng, phá hủy cơ sở hạ tầng. - Chi phí để khắc phục sự cố môi trường và chữa bệnh cho người dân là con số khổng lồ. * Luận điểm 3: Tổn hại về hệ sinh thái và đa dạng sinh học. - Rừng bị tàn phá khiến đất đai xói mòn, sạt lở. - Nhiều loài động thực vật quý hiếm bị tuyệt chủng, làm mất cân bằng sinh thái. * Luận điểm 4: Tổn hại về chất lượng cuộc sống và tinh thần. - Môi trường ô nhiễm, ngập lụt, rác thải làm mất mỹ quan, gây căng thẳng, mệt mỏi cho con người. C. Kết bài: - Khẳng định lại vai trò của môi trường: Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính mình. - Lời kêu gọi hành động: Mỗi người cần có ý thức từ những việc nhỏ nhất (vứt rác đúng nơi quy định, trồng cây xanh...). Lop7.net Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án 2. Đoạn văn mẫu tham khảo Môi trường sống là yếu tố quyết định sự tồn tại của nhân loại, thế nhưng thực tế đáng báo động hiện nay là ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân còn rất kém. Nếu tình trạng này tiếp diễn, đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại khôn lường. Trước hết, sự thiếu ý thức dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và không khí, trực tiếp tấn công vào sức khỏe con người. Những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư, viêm phổi ngày càng gia tăng là hệ quả tất yếu của khói bụi và thực phẩm nhiễm hóa chất. Không chỉ vậy, việc tàn phá rừng và xả thải bừa bãi là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu. Những trận lũ quét kinh hoàng, hạn hán kéo dài không chỉ cướp đi sinh mạng mà còn nhấn chìm ruộng vườn, nhà cửa, đẩy biết bao gia đình vào cảnh trắng tay. Kinh tế đất nước cũng vì thế mà kiệt quệ do phải đổ dồn ngân sách vào việc khắc phục hậu quả thiên tai. Rõ ràng, khi môi trường bị bức tử, con người chính là đối tượng chịu hậu quả đầu tiên và nặng nề nhất. Vì vậy, bảo vệ môi trường không còn là khẩu hiệu xa vời mà phải trở thành ý thức tự giác, là bổn phận của mỗi cá nhân để duy trì sự sống cho chính chúng ta và thế hệ mai sau. Lop7.net Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án ĐỀ SỐ 13 ĐỀ THI ÔN HÈ MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 7 LÊN LỚP 8 Điểm Lời phê của thầy cô giáo I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm) Đọc văn bản sau rồi thực hiện các yêu cầu bên dưới: NGƯỜI CHẠY CUỐI CÙNG Cuộc đua ma ra tông hàng năm ở thành phố tôi thường diễn ra vào mùa hè. Nhiệm vụ của tôi là ngồi trong xe cứu thương, theo sau các vận động viên, phòng khi có ai đó cần được chăm sóc y tế. Anh tài xế và tôi ngồi trong xe, phía sau hàng trăm con người, chờ tiếng súng lệnh vang lên. Khi đoàn người tăng tốc, nhóm chạy đầu tiên vượt lên trước. Chính lúc đó hình ảnh một người phụ nữ đập vào mắt tôi. Tôi biết mình vừa nhận diện được “người chạy cuối cùng”. Bàn chân chị ấy cứ chụm vào mà đầu gối cứ đưa ra. Đôi chân tật nguyền của chị tưởng chừng như không thể nào bước đi được, chứ đừng nói là chạy. Nhìn chị chật vật đặt bàn chân này lên trước bàn chân kia mà lòng tôi tự dưng thở giùm cho chị, rồi reo hò cổ động cho chị tiến lên. Tôi nửa muốn cho chị dừng lại nửa cầu mong chị tiếp tục. Người phụ nữ vẫn kiên trì tiến tới, quả quyết vượt qua những mét đường cuối cùng. Vạch đích hiện ra, tiếng người la ó ầm ĩ hai bên đường. Chị chầm chậm tiến tới, băng qua, giật đứt hai đầu sợi dây cho nó bay phấp phới sau lưng tựa như đôi cánh. Kể từ hôm đó, mỗi khi gặp phải tình huống quá khó khăn tưởng như không thể làm được, tôi lại nghĩ đến “người chạy cuối cùng”. Liền sau đó mọi việc trở nên nhẹ nhàng đối với tôi. (Theo John Ruskin) 1. Lựa chọn đáp án đúng cho các câu từ 1 đến 8: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản? A. Miêu tả B. Tự sự C. Biểu cảm D. Nghị luận Câu 2. Cuộc thi chạy hàng năm ở thành phố tác giả thường tổ chức vào mùa nào? A. Mùa xuân B. Mùa hè C. Mùa thu D. Mùa đông Câu 3: Nhiệm vụ của nhân vật “tôi” trong bài là: A. Đi thi chạy. B. Đi diễu hành. C. Đi cổ vũ. D. Chăm sóc y tế cho vận động viên. Câu 4: “Người chạy cuối cùng” trong cuộc đua có đặc điểm gì? A. Là một em bé. B. Là một cụ già. C. Là một người phụ nữ có đôi chân tật nguyền. D. Là một người đàn ông mập mạp. Lop7.net Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án Câu 5: Dấu ngoặc kép trong câu văn sau có công dụng gì: Kể từ hôm đó, mỗi khi gặp phải tình huống quá khó khăn tưởng như không thể làm được, tôi lại nghĩ đến “người chạy cuối cùng”. A. Đánh dấu từ ngữ,câu, đoạn dẫn trực tiếp. B. Đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt C. Đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghĩa hàm ý mỉa mai. D. Đánh dấu tên các tác phẩm, tờ báo, tập san dẫn trong câu văn. Câu 6: Khoanh vào chữ cái trước từ đồng nghĩa với từ “kiên trì”? A. nhẫn nại B. chán nản C. dũng cảm D. hậu đậu Câu 7: Đoạn văn sau có mấy câu ghép: Vạch đích hiện ra, tiếng người la ó ầm ĩ hai bên đường. Chị chầm chậm tiến tới, băng qua, giật đứt hai đầu sợi dây cho nó bay phấp phới sau lưng tựa như đôi cánh. A. 1 câu B. 2 câu C. 3 câu D. 4 câu Câu 8: Nội dung chính của văn bản là: A.Ca ngợi người phụ nữ đã vượt qua được khó khăn, vất vả giành chiến thắng trong cuộc thi. B.Ca ngợi người phụ nữ có đôi chân tật nguyền có nghị lực và ý chí đã giành chiến thắng trong cuộc thi chạy. C. Ca ngợi tinh thần chịu thương, chịu khó của người phụ nữ. D.Ca ngợi sự khéo léo của người phụ nữ. Câu 9: Mỗi khi gặp phải tình huống quá khó khăn tưởng như không thể làm được, tác giả lại nghĩ đến ai? Câu 10: Em rút ra bài học gì khi đọc xong bài văn trên? II. VIẾT (6.0 điểm) Câu 1: Dựa vào phần đọc hiểu em hãy viết đoạn văn 200 chữ về vai trò của ý chí nghị lực trong cuộc sống. Câu 2: Phân tích bài thơ sau: Quê hương là gì hở mẹ? Quê hương là cầu tre nhỏ Mà cô giáo dạy phải yêu. Mẹ về nón lá nghiêng che Quê hương là gì hở mẹ? Là hương hoa đồng cỏ nội Ai đi xa cũng nhớ nhiều. Bay trong giấc ngủ đêm hè. Quê hương là chùm khế ngọt Quê hương là vòng tay ấm Cho con trèo hái mỗi ngày. Con nằm ngủ giữa mưa đêm. Quê hương là đêm trăng tỏ Quê hương là đường đi học Hoa cau rụng trắng ngoài thềm. Con về rợp bướm vàng bay. Quê hương là con diều biếc Quê hương là vàng hoa bí Tuổi thơ con thả trên đồng. Là hồng tím giậu mồng tơi Quê hương là con đò nhỏ Là đỏ đôi bờ dâm bụt Êm đềm khua nước ven sông. Màu hoa sen trắng tinh khôi. Lop7.net Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án Quê hương mỗi người chỉ một Quê hương nếu ai không nhớ Như là chỉ một mẹ thôi (Quê hương - Đỗ Trung Quân) ----- HẾT----- Lop7.net Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án HƯỚNG DẪN CHI TIẾT I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 điểm) 1. B 2. B 3. D 4. C 5. B 6. A 7. A 8. B Câu 9: Mỗi khi gặp khó khăn, tác giả lại nghĩ đến “người chạy cuối cùng” (người phụ nữ tật nguyền nhưng kiên trì về đích). Câu 10: Bài học rút ra: - Trong cuộc sống, dù có khiếm khuyết hay khó khăn đến đâu, chỉ cần có ý chí và sự kiên trì, chúng ta đều có thể chạm tới vạch đích của chính mình. - Đừng bao giờ từ bỏ hy vọng, nghị lực sẽ biến những điều không thể thành có thể. II. PHẦN VIẾT (6.0 điểm) Câu 1: Đoạn văn về vai trò của ý chí nghị lực (2.0 điểm) Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề (Ý chí nghị lực là lá chắn, là động lực giúp con người vượt qua nghịch cảnh). Thân đoạn: - Vai trò: Giúp con người đối mặt với khó khăn mà không lùi bước (như người phụ nữ trong văn bản). + Giúp chúng ta khám phá những giới hạn mới của bản thân. + Tạo ra sự tôn trọng từ những người xung quanh và lan tỏa năng lượng tích cực (tác giả đã cảm thấy mọi việc "nhẹ nhàng" hơn khi nghĩ về chị). - Dẫn chứng: Các tấm gương như thầy Nguyễn Ngọc Ký, Nick Vujicic... Kết đoạn: Bài học cho bản thân (Rèn luyện sự kiên trì từ những việc nhỏ nhất). Câu 2: Phân tích bài thơ "Quê hương" của Đỗ Trung Quân (4.0 điểm) 1. Mở bài: - Giới thiệu tác giả Đỗ Trung Quân và bài thơ "Quê hương". - Nêu chủ đề: Bài thơ là định nghĩa giản dị, cảm động về quê hương qua cái nhìn của một đứa trẻ. 2. Thân bài: - Khổ 1: Câu hỏi ngây ngô "Quê hương là gì hả mẹ?". Câu hỏi mở đầu gợi sự tò mò và dẫn dắt người đọc vào thế giới của kỷ niệm. - Những hình ảnh so sánh đặc sắc: Tác giả dùng những hình ảnh cụ thể, gần gũi để định nghĩa một khái niệm trừu tượng: + Kỷ niệm gắn liền với thiên nhiên, tuổi thơ: Chùm khế ngọt, con diều biếc, con đò nhỏ, cầu tre, hương hoa đồng cỏ nội... + Kỷ niệm gắn liền với cuộc sống bình dị: Đường đi học rợp bướm bay, màu hoa bí vàng, giậu mồng tơi tím, hoa sen trắng... - Hình ảnh người mẹ: Quê hương gắn liền với mẹ (nón lá nghiêng che, vòng tay ấm). Mẹ chính là hiện thân lớn nhất của quê hương. - Giá trị nghệ thuật: + Thể thơ lục bát (hoặc biến thể tự do gần gũi) dễ đi vào lòng người. + Biện pháp điệp cấu trúc "Quê hương là..." tạo nhịp điệu da diết như lời ru. + Phép so sánh độc đáo, gợi hình, gợi cảm. 3. Kết bài: Lop7.net Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án - Hai khổ cuối: Đưa ra chân lý sâu sắc: "Quê hương mỗi người chỉ một / Như là chỉ một mẹ thôi". - Lời nhắc nhở: Quê hương là cội nguồn sức mạnh tâm hồn. Nếu ai không nhớ quê hương sẽ không thể trưởng thành (thành người). Lop7.net Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án ĐỀ SỐ 14 ĐỀ THI ÔN HÈ MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 7 LÊN LỚP 8 Điểm Lời phê của thầy cô giáo I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm) Đọc văn bản sau rồi thực hiện các yêu cầu bên dưới: Tre Việt Nam Tre xanh, Thương nhau tre chẳng ở riêng Xanh tự bao giờ? Lũy thành từ đó mà nên hỡi người Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh Chẳng may thân gãy cành rơi Thân gầy guộc, lá mong manh Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng Mà sao nên lũy nên thành tre ơi? Nòi tre đâu chịu mọc cong Ở đâu tre cũng xanh tươi Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường. Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu? Lưng trần phơi nắng phơi sương Có gì đâu, có gì đâu Có manh áo cộc, tre nhường cho con. Mỡ màu ít, chắt dồn lâu hóa nhiều Măng non là búp măng non. Rễ siêng không ngại đất nghèo Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre. Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù. Năm qua đi, tháng qua đi Vươn mình trong gió tre đu Tre già măng mọc có gì lạ đâu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành Mai sau, Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Mai sau, Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm. Mai sau, Bão bùng thân bọc lấy thân Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh. Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm (Nguyễn Duy) 1. Lựa chọn đáp án đúng cho các câu từ 1 đến 8: Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? A. Bảy chữ B. Lục bát C. Tự do D. Năm chữ Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ? A. Tự sự B. Miêu tả C. Biểu cảm D. Nghị luận Câu 3. Câu thơ sau thuộc kiểu câu nào? “Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?” A. Câu trần thuật B. Câu cầu khiến C. Câu cảm thán D. Câu nghi vấn Câu 4: Đoạn thơ sau cho thấy đức tính gì của cây tre Việt Nam? "Bão bùng thân bọc lấy thân Lop7.net Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm Thương nhau tre chẳng ở riêng Lũy thành từ đó mà nên hỡi người" A. Tình yêu thương đồng loại B. Cha truyền con nối C. Cần cù, chịu khó D. Ngay thẳng Câu 5. Câu thơ dưới đây cho thấy đức tính gì của cây tre? "Lưng trần phơi nắng phơi sương Có manh áo cộc, tre nhường cho con." (Tre Việt Nam - Nguyễn Duy) A. Chịu khó, cần cù B. Tinh thần đoàn kết C. Hi sinh, nhường nhịn D. Ngay thẳng, bất khuất Câu 6. Dòng thơ dưới đây cho thấy đức tính gì của cây tre Việt Nam? "Nòi tre đâu chịu mọc cong. Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường." A. Đoàn kết, đùm bọc nhau B. Khỏe khoắn, ngay thẳng, bất khuất C. Khỏe khoắn, vững chắc D. Chịu thương, chịu khó Câu 7. Đoạn thơ kết bài có ý nghĩa gì? "Mai sau, Mai sau, Mai sau, Đất xanh tre mãi xanh xanh màu tre xanh". A. Thể hiện vẻ đẹp sự kế tiếp liên tục của các thế hệ - tre già măng mọc, giống như những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam sẽ mãi mãi nối tiếp liên tục từ thế hệ nay sang thế hệ khác. B. Dự đoán sau này bóng tre xanh sẽ còn lan tỏa khắp các làng quê, các ruộng đồng, núi đồi, thành phố trên đất nước Việt Nam. C. Màu xanh của tre là màu vô cùng tươi đẹp. D. Cần có biện pháp hữu hiệu để màu xanh của tre được phủ khắp trên đất nước Việt Nam. Câu 8. Những phẩm chất tốt đẹp nào của người dân Việt Nam được hiện lên thông qua hình ảnh cây tre? A. Cần cù, đoàn kết B. Cần cù, đoàn kết, ngay thẳng C. Cần cù, đoàn kết, nhân hậu, thông minh D. Nhân hậu, thông minh Câu 9. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu thơ: “Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm” Câu 10: Hình ảnh cây tre trong bài thơ đã gợi lên những phẩm chất cao quý nào của con người Việt Nam? (Viết câu trả lời bằng 3 đến 5 dòng) II. VIẾT Câu 1: Viết đoạn văn về sự cần thiết của siêng năng chăm chỉ Câu 2 : Phân tích nhân vật ông Sáu Lục trong tác phẩm “Ngân hàng ông Sáu Lục” của nhà văn Trung Phúc. NGÂN HÀNG ÔNG SÁU LỤC Lop7.net Trọn bộ 22 Đề Ngữ văn ôn hè từ Lớp 7 lên Lớp 8 kèm đáp án Nhà ông Sáu Lục có tiệm đồ điện khá lớn, lúc nào cũng tấp nập khách ra vô. Nhưng thiệt ra, ông Sáu Lục được biết tới như một ngân hàng cho mượn tiền nổi danh trong xóm. Ông có cách cho vay rất kỳ lạ. Phải để lại nhà ông thứ gì đó, rồi mới được lấy tiền về. Có một lần má tui túng bấn quá, đành ôm cái nồi cơm điện mới sắm ra tiệm ông Sáu Lục. Ông hỏi: – Thím đem cầm cái nồi này có phải để lấy tiền mua gạo thiệt không? – Không phải lo cơm cho sắp nhỏ, tui chẳng ra đây làm gì đâu anh Sáu ơi! – Má tui giận lắm, mà vẫn phải nén giọng. – Cái nồi điện này tui không ưng! Thím có thứ khác thì mang ra đây, rồi lấy tiền về đong gạo. Hai má con nghĩ nát nước mới thấy trong nhà còn cái ghế bành cẩn ốc. Được một điều ông ít khi cằn kèo. Người ta cần bao nhiêu, ông cho mượn bấy nhiêu. Cả tháng sau đó, má tui phải chắt mót mới chuộc được cái ghế. Tới gian nhà sau của ông Sáu, tui muốn phát ngợp trước cơ man đồ đạc. Đủ thứ đủ loại đồ dùng của các nhà trong xóm chất đống nơi đây. Có thứ chắc gửi lâu lắm rồi, mạng nhện giăng đầy. ‘Sao ông Sáu không bán bớt đi?” – Tui hỏi. Ông Sáu Lục lắc đầu: “Không bán. Cứ giữ chơi vậy đó!” Có khi tới cuối tháng, thiếu tiền đóng học phí, tụi tui đứa dắt xe đạp, đứa mang cái máy nghe băng học tiếng Anh, hy vọng ông Sáu cho mượn chút tiền. Ông Sáu lắc đầu quầy quậy: “Mấy thứ này, tao mà nhận, tụi bay tới trường bằng cái gì?”. Và ông còn nạt thêm: “Tiền học tụi bay đem đi nướng vô chơi điện tử chớ gì. Tao rành quá mà. Dẹp, không có vay mượn gì hết. Tối nay tao qua méc chuyện này với ba má tụi bây!”. Cả bọn tiu nghỉu. Ông Sáu Lục này lạ thiệt, suốt ngày ngồi trong tiệm làm đồ điện, vậy mà tụi nhỏ làm gì, chơi gì, ông cũng rành rẽ hết ráo. Tháng rồi, má tui bịnh nằm một chỗ. Sắp tới kỳ đóng tiền may đồng phục, tui không biết kiếm đâu cho ra 120 ngàn. Xót má, tui không nỡ xin. Đi chợ mua rau mà mặt mũi tui quạu đeo. Bất thần, tui vấp phải ai đó đứng cản ngay trước mặt. Ngước lên, là ông Sáu Lục. “Sao? Có muốn ra tiệm của tao làm không?”. Ra tiệm làm nghĩa là có tiền. Có tiền nghĩa là bớt cho má một khoản lo. Tui gật đầu liền tức khắc. Buổi sáng, tui ra tiệm điện, học quấn dây mô-tơ. Phải kỹ lưỡng và tỉ mỉ lắm. Mấy bữa đầu tui làm lụp chụp, nhưng rồi ông Sáu chỉ bảo tới nơi, nên dần dà tui quấn dây nghiêm ngắn lắm. Ba tuần học việc và làm việc, tui được trả 200 ngàn, dư sức đóng tiền đồng phục và mua tập vở sửa soạn trước năm học mới. Tui vẫn được làm thêm ngoài tiệm điện của ông Sáu Lục, tự kiếm tiền trang trải việc học phụ cho má. Thỉnh thoảng, tui chạy xuống cái kho gian nhà sau tiệm, thấy rất nhiều đồ đạc cũ kỹ ngày xưa vẫn còn nguyên. Ông Sáu Lục không hề bán chúng. Nghĩ hoài, tui mới hiểu, ông Sáu Lục không phải là người cho cầm đồ mượn tiền. Ông chỉ giúp những người nghèo hơn lúc khó khăn mà thôi. Lấy tiền dễ dàng quá, người ta không biết quý, nên ông mới nhận cầm những thứ không thật cần thiết. Hồi đó, ông không chịu nhận cái nồi cơm điện của má con tui là vậy Có nhiều việc, phải lớn một chút tui mới hiểu hết thâm ý sâu xa. Hiểu rồi bỗng thấy thật thương, thật xúc động. ----- HẾT----- Lop7.net
Tài liệu đính kèm: