Bộ 16 Đề học sinh giỏi môn Ngữ văn 7 (Có đáp án)

docx 116 trang Người đăng Hắc Nguyệt Quang Ngày đăng 18/03/2026 Lượt xem 22Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bộ 16 Đề học sinh giỏi môn Ngữ văn 7 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 BỘ ĐỀ HSG L7
 Đề 1: Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
 Bầu trời trên giàn mướp
 (Hữu Thỉnh) 
 Thu ơi thu ta biết nói thế nào
 sương mỏng thế ai mà bình tĩnh được 
 hứa hẹn bao nhiêu bầu trời trên giàn mướp
 lúc hoa vàng thu mới chập chờn thu 
 ngỡ như không phải vất vả chi nhiều
 sau tiếng sấm thế là trời mới mẻ
 quả đã buông thủng thẳng xuống bờ ao 
 ta cứ tưởng đất sinh sôi thật dễ 
 trời thu xanh và hoa mướp thu vàng
 thưa mẹ 
 những năm bom nơi con không thể có 
 bến phà con đã qua, rừng già con đã ở
 gặp vạt lúa nương con cũng viết thư về 
 nên không dám 
 dù một giây sao nhãng 
 bầu trời này từng dẫn dắt con đi.
 (Theo www.nhavantphcm.com.vn, 20/9/2014) 
 Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? 
A. Tự do B. Tám chữ C. Lục bát D. Năm chữ 
 Câu 2. Từ “ thủng thẳng” là loại từ nào?
 A. Từ đơn B. Từ ghép C. Từ láy D. Từ ghép tổng hợp 
 Câu 3. Bài thơ có bố cục mấy phần? 
 A. Ba phần B. Hai phần c. Bốn phần D. Một phần 
 Câu 4. Tín hiệu đầu tiên của mùa thu được tác giả cảm nhận là hình ảnh nào? 
 A. Hương ổi B. Làn sương mỏng C. Hoa cúc D. Trời xanh 
 Câu 5. Bài thơ là lời của ai nói với ai? 
 A. Con nói với mẹ B. Cháu nói với bà
 B. Anh nói với em D. Cha nói với con 
 Câu 6. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là? 
 A. Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Miêu tả. 
 Câu 7. Khung cảnh thiên nhiên của mùa nào được gợi tả qua tác phẩm?
 A. Mùa hạ B. Mùa thu C. Mùa đông D. Mùa xuân 
 1 Câu 8. Nội dung chính của khổ thơ thứ nhất là gì? 
A.Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu qua hình ảnh bầu trời xanh và giàn 
mướp hoa vàng.
B. Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu.
C. Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu qua hình ảnh giàn mướp hoa vàng.
D. Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu qua hình ảnh bầu trời xanh 
Câu 9. Nêu nội dung chính của hai khổ thơ sau? 
Câu 10. Viết đoạn văn ( 5 – 7 dòng) nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của hình ảnh 
thơ: trời thu xanh và hoa mướp thu vàng ?
II. Phần viết: 
 Phân tích đặc điểm nhân Dế Mèn trong đoạn trích “ Tranh hùng với võ sĩ Bọ 
Ngựa” ( Trích “ Dế Mèn phiêu lưu kí” ) của Tô Hoài? 
 Tiếng ông cụ gọi loa vang đài. Ai nấy lặng yên nghe. Bỗng một tiếng đáp vang 
động : “Có ta đây!” Rồi anh chàng Bọ Ngựa ban nãy vừa lôi thôi với tôi, nhảy vót 
lên. Cơ nguy cho Trũi, vì xem anh chàng Trũi đã có vẻ mệt. Vả lại, thấy Bọ Ngựa 
ngông ngáo, nhớ chuyện ban nãy ở quán hàng, cái bực mình trong tôi tức tốc trở 
lại. Tôi nhảy phắt lên đài, quát: 
 - Khoan khoan, đây trước đã, Nhớ hẹn chứ? 
 Bọ ngựa lùi lại rồi “à” một tiếng rõc to, nghênh hai thanh gươm lên – vẫn một điệu 
 tự cao, tự đại như thế. Lại như lệ trên trường đấu ngày ấy, trước khi vào cuộc, mỗi 
 bên biểu diễn một vài đường quyền, theo sở trường của mình. Bọ ngựa đứng vươn 
 mình, đi bài song kiếm. Bóng kiếm loang loáng, mù mịt như hoa may điệu bộ khá 
 đẹp mắt. Tôi chẳng cần đi bài gì hết. Tôi đứng nghiêng người về đằng trước, hếch 
 hai càng lên. Cứ hai càng ấy, tôi ra oai sức khoẻ, đạp phóng tanh tách liên tiếp một 
 hồi gió tuôn thành từng luồng xuống bay tốc cả áo xanh, áo đỏ các cô Cào Cào đứng 
 gần. 
 Lúc vào đấu, Bọ Ngựa cao nên lợi đòn. Hai gươm hắn bổ xuống đầu tôi chan 
 chát. Nhưng đầu tôi đầu gỗ lim tôi lựa cách đỡ, không vần gì hết. Còn tôi đoản 
 người, tôi nhè bụng hắn mà đá, khiến có lúc hắn phải hạ gươm xuống đỡ, mất đà, 
 đâm loạng choạng. Biết không chém được đầu tôi, hắn liền đổi miwngs ác, co gươm, 
 quặp cổ tôi. Hắn định lách gươm nghiêng vào khe họng – chỗ hiểm, cuống họng tôi 
 có khe thịt dễ đứt. Thấy thế nguy, tôi gỡ đòn, cúi xuống, thúc nhanh một răng rất 
 sâu vào bụng hắn. Choáng người, Bọ Ngựa nhảy lộn qua lưng tôi. Tôi cũng chỉ đợi 
 có thế . Vừa đúng là càng – lừa vào miếng võ gia truyền của nhà Dế, tôi lấy tấn, đá 
 hậu đánh phách một đá trời giáng vào giữa mặt anh chàng. Chàng Bọ Ngựa kiêu 
 2 ngạo rú lên một tiếng bắn tung lên trời, rơi tọt ra ngoài võ đài, ngã vào đám đông 
xôn xao. 
 Gợi ý :
Phần Câu Nội dung Điểm
 1 Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. 0.5
 2 Từ láy 0.5
 3 Bố cục của bài thơ: 2 phần 0.5
 4 Làn sương mỏng 0.5
Đọc 5 Lời con nói với mẹ 0.5 
hiểu 
 6 Biểu cảm 0.5
 7 Mùa thu 0.5
 8 Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu qua hình 0.5
 ảnh bầu trời xanh và giàn mướp hoa vàng.
 9 Nội dung chính của hai khổ sau: Nỗi niềm xúc động của 1.0
 tác giả khi đối diện với khung cảnh hiện tại và hoài niệm 
 về quá khứ. 
 10 Trời thu xanh và hoa mướp thu vàng là những hình ảnh 1.0
 đẹp, hài hòa về màu sắc. Sắc xanh của bầu trời và sắc 
 vàng của hoa mướp mở ra không gian khoáng đạt, cao 
 rộng, gợi sự bình yên, thanh thản, nhẹ nhõm trong tâm 
 hồn con người.
Phần a.Yêu cầu về hình thức: 
Viết - Bài viết có bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn 
 đạt trôi chảy; văn phong trong sáng, có cảm xúc, đảm 
 bảo đúng thể loại phân tích đặc điểm nhân vật. 
 b. Yêu cầu nội dung: Đảm bảo một số vấn đề cơ bản 
 sau:
 +) Mở bài
 - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và nêu đặc 
 điểm chung về nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích.
 + ) Thân bài: 
 3 - Dế Mèn đĩnh đạc, chững chạc, lịch thiệp trong màn 
diện kiến võ sĩ Bọ Ngựa .
+ Mèn đi trẩy hội hoa may cùng họ Chuồn Chuồn với 
hăm hở của một tráng sĩ và có cơ hội tham gia cuộc thi 
võ đỏ kén ai tài giỏi nhất đứng ra coi sóc việc chung 
trong vùng.
+ Chưa lên võ đài, nhưng Mèn đã có vinh dự lớn "sơ 
kiến" võ sĩ Bọ Ngựa. Võ sĩ có "bước chân ngỗng", con 
mắt "đu đưa", lưỡi có "răng cưa". Hai lưỡi gươm lợi hại 
cắp bên mạng sườn. Hai sợi râu "phất lên phất xuống". 
Rất "hách dịch", đi đứng "ra lối quan dạng" tỏ vẻ ta đây, 
coi thiên hạ bằng nửa con mắt! 
+ Tại quán hàng cỏ, võ sĩ Bọ Ngựa đã "bổ luôn" một 
nhát gươm vào đầu Mèn "đau điếng" vì cái tội đi đứng 
"đủng đỉnh" mục hạ vô nhân của Mèn. Mèn "đá hậu cú 
song phi" nhưng võ sĩ Bọ Ngựa đã né được! 
+ Dưới mắt Mèn thì Bọ Ngựa chỉ có "mấy miếng võ 
xoàng", "cái oai rơm rác và lố bịch" ấy chẳng cần để mắt 
đến. Võ sĩ Bọ Ngựa là "cháu đích tôn cụ võ sư Bọ 
Ngựa", phen này sẽ tranh được "chân trạng võ", ai cũng 
sợ và tin như thế nên bác Cành Cạch đã hết lời khuyên 
Dế Mèn "mau mau tránh đi nơi khác...".
- Dế Mèn trong cuộc đấu võ thực sự là một trang tuấn 
kiệt
+ Lúc đầu Mèn chỉ “ ra oai sức khoẻ” hếch đôi càng 
mẫm bóng "đạp phóng tanh tách" tuôn ra những luồng 
gió lớn...Cả hai đã trải qua ba hiệp, cả hai võ sĩ xông vào 
nhau nhau ra đòn bằng tuy lực và sở trường của mình, 
với những thể đánh, những miếng võ cực hiếm nhằm 
đánh gục đối thủ.
+ Hiệp một, lợi thế nghiêng về võ sĩ Bọ ngựa. Bọ Ngựa 
"cao nên lợi đòn" đã dùng hai gươm bổ xuống đầu Mèn 
những nhát "chan chát". Mèn dùng "đầu gỗ lim" để 
chống đỡ, đồng thời áp sát vào đánh gần, cứ "nhè bụng" 
 4 Bọ Ngựa mà đá, khiến địch thủ phải "hạ gươm xuống 
đỡ, mất đà đầu loạng choạng". Mèn đã đánh thấp, đánh 
gần, công thủ mưu trí nên về sau giành được thế chủ 
động làm cho võ sĩ Bọ Ngựa rối loạn đấu pháp.
+ Hiệp hai, Bọ Ngựa "đổi miếng ác", co gươm quắp cổ 
Mèn, "định lách gươm nghiêng vào khe họng" của Mèn, 
nơi có khe thịt dễ đứt! Mèn đã nhanh trí đổi công "cúi 
xuống, thúc nhanh một văng rất sâu vào bụng" Bọ Ngựa, 
làm cho địch thủ "choáng người".
+ Hiệp ba, Bọ Ngựa thất thế hoàn toàn "nhảy lộn qua 
lưng Mèn". Và Mèn đã bôi một đòn hiểm, giáng một 
đòn quyết định, hạ đo ván cháu đích tôn cụ võ sư Bọ 
Ngựa. Mèn lấy tấn, đá hậu đánh phách một đá trời giáng 
vào giữa mặt Bọ Ngựa làm cho hắn "rú lên" rơi tọt 
xuống võ đài. Đó là miếng võ gia truyền của họ nhà dế. 
Đám hội trở nên ồn ào nhốn nháo vì không ai ngờ võ sĩ 
Bọ Ngựa lại "thua nhanh và thua đau" như thế!
=> Dế Mèn và Dế Trũi được đám hội tôn lên làm chánh, 
phó thủ lĩnh đứng đầu các làng trong vùng cỏ may. Cả 
hai được đám hội xô vào làm kiệu rước. Dế Mèn đã đạt 
tới vinh quang tột đỉnh trên con đường phiêu lưu. Cuộc 
tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa là một trang đời phiêu lưu 
của chú Dế Mèn đáng yêu.
* Đọc chương "Tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa", ta cảm 
thấy mình như đang được mục kích những cuộc giao 
đấu so tài của các trang hiệp sĩ thời trung cổ. Tô Hoài 
đã sử dụng rất hay một số từ ngữ về võ thuật như: giang 
hồ, võ đồng môn, song kiếm, chùy, lên tấn, miếng võ, 
đường quyền, đá hậu, tranh lèo giật giải..., gợi tả không 
khí đua tranh của khách giang hồ thượng võ. Qua đoạn 
văn này, ta thấy nhân vật Dế Mèn thật đáng yêu. Chú đã 
có một lối sống cao đẹp, đàng hoàng trước thiên hạ, dám 
đọ trí, đua tài với người đời. Không còn nữa một Dế 
Mèn hung hăng ngổ ngáo. Chỉ thấy bấy giờ, một Dế 
 5 Mèn khiêm cung, độ lượng, biết trọng danh dự của 
mình. Khi ấy trước anh chàng Bọ Ngựa kiêu căng, 
Dế Mèn đã chiến thắng trong tiếng hoan hô cuồng 
nhiệt. Dế Mèn đánh thắng võ sĩ Bọ Ngựa đâu chỉ để 
tranh lèo giật giải mà còn thể hiện một cách ứng xử của 
các hảo hán, anh hùng xưa nay:
 "Anh hùng tiếng đã gọi rằng
 Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!"
 ( “Truyện Kiều” – Nguyễn Du)
-) Nhân vật Dế Mèn trong “Tranh hùng với võ sĩ Bọ 
Ngựa” được xây dựng bằng những hình thức nghệ thuật 
đặc sắc. 
- Nghệ thuật tả loài vật, tả hoạt cảnh, lối kể chuyện có 
thắt, có mở, tạo đỉnh điểm cao trào của cuộc tranh hùng 
giữa võ sĩ Bọ Ngựa và Dế Mèn... vô cùng hấp dẫn.
+ Tô Hoài đã quan sát các con vật hết sức kỹ lưỡng, tinh 
tế từ hình dáng bên ngoài, đến từng chi tiết, từng hoạt 
động. Ông khéo léo vận dụng các giác quan, chọn góc 
nhìn phù hợp, trình tự quan sát hợp lý để khắc họa nhân 
vật đúng với đặc điểm giống loài, hợp với cái nhìn trong 
trẻo, thơ ngây đầy khám phá của trẻ thơ. Tô Hoài có khả 
năng hóa thân vào sự sống của loài vật đồng thời lại thổi 
vào thế giới loài vật sự sống của con người. Sự chung 
sống, hòa trộn của hai thế giới ấy tạo nên sức hấp dẫn 
mãnh liệt cho đoạn trích nói riêng và của tác phẩm nói 
chung. Dế Mèn trong “ Tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa” 
trích “ Dế Mèn phiêu lưu ký” mang tính nhân hóa khi 
được khắc họa có hành động, ngôn ngữ, có đời sống nội 
tâm và được đặt trong những mối quan hệ mang tính xã 
hội thể hiện tính cách người của nhân vật. Mèn có đời 
sống nội tâm phong phú với những suy nghĩ, ước ao, 
khát vọng và cả những toan tính đời thường. Điều đó 
khiến nhân vật mang đậm hơi thở cuộc sống, gần gũi 
với con người. Mèn khát khao cháy bỏng một khát vọng 
lên đường, để mỗi bước đi sẽ thấy một sự đổi thay, mỗi 
sáng mỗi chiều sẽ thấy một cảnh lạ, sẽ gặp gỡ nhiều 
người. 
 6 + Việc sử dụng phép nhân hóa và ẩn dụ đã khiến cho 
 nhân vật Dế Mèn vô cùng sinh động. Dế Mèn - một 
 thanh niên, sống có lý tưởng, coi thường tiền tài danh 
 vọng, sẵn sàng xả thân, trừng trị kẻ hống hách, hăng say 
 hoạt động để phụng sự lý tưởng được đặt cạnh Bọ Ngựa 
 là hạng người kiêu ngạo khoác lác khiến cho thế giới 
 loài vật hiện lên vô cùng hấp dẫn.
 +Với vốn sống phong phú, tài quan sát sắc sảo, nghệ 
 thuật sử dụng ngôn ngữ giàu có và sáng tạo độc đáo Tô 
 Hoài tạo ra chân dung nhân vật Dế Mèn và các loài vật 
 khác vô cùng sinh động mở ra một thế giới nghệ thuật 
 kỳ thú, vượt lên thời gian, đem lại niềm vui thích không 
 chỉ cho trẻ em mà ngay cả với người lớn
 +) Kết bài:
 Khẳng định lại vẻ đẹp nhân vật Dế Mèn – tinh thần 
 thượng võ của Mèn trong đoạn trích. 
 ----------------------------------------------
Đề 2: Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
 THỜI GIAN
 Thời gian qua kẽ tay
 Làm khô những chiếc lá
 Kỷ niệm trong tôi
 Rơi như tiếng sỏi
 trong lòng giếng cạn
 Riêng những câu thơ còn xanh
 Riêng những bài hát còn xanh
 Và đôi mắt em như hai giếng nước.
 (Theo Văn Cao, cuộc đời và tác phẩm, NXB Văn học, 1996, tr.80)
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
 A. Tự do B. Tám chữ C. Bảy chữ D. Năm chữ 
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là ? 
A.Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Miêu tả
Câu 3. Hai câu thơ “Riêng những câu thơ còn xanh
 Riêng những bài hát còn xanh”
Sử dụng biện pháp tu từ nào? 
 A. Nhân hoá B. Ẩn dụ
 C.Điệp ngữ và ẩn dụ D. Điệp ngữ và nhân hoá
Câu 4
 7 Cụm từ “những câu thơ”, “những bài hát” trong hai câu thơ 5 và 6 có ý nghĩa gì ? 
 A. Những điều có sức sống mãnh liệt, trường tồn với thời gian.
 B. Những điều bình dị trong cuộc sống.
 C. Cái đẹp luôn tiềm ẩn trong cuộc sống của chúng ta. 
 D. Những điều lớn lao trong cuộc sống
Câu 5. Từ “còn xanh” trong hai câu thơ 5 và 6 diễn tả điều gì? 
 A. Màu xanh của lá 
 B. Sự tồn tại mãi mãi với thời gian
 C. Cái bình dị của cuộc sống luôn bất diệt
 D. Vẻ đẹp của nghệ thuật.
Câu 6. Sự trôi chảy của thời gian làm thay đổi những điều gì? 
 A. Khô những chiếc lá, làm lãng quên kỉ niệm (chỉ còn vang vọng như tiếng sỏi 
 rơi vào lòng giếng cạn) 
 B. Những câu thơ, những bài hát và đôi mắt em.
 C. Những câu thơ, những bài hát
 D. Khô những chiếc lá, 
Câu 7. Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc lá trong câu thơ thứ hai?
A.Biểu tượng về dòng chảy của thời gian , tác động nghiệt ngã của thời gian với con 
người và sự sống.
B. Biểu tượng cho thiên nhiên và sự sống.
C. Biểu tượng cho cái đẹp 
D. Biểu tượng cho sự vĩnh hằng.
Câu 8. Nêu hiệu quả của phép tu so sánh được sử dụng trong câu thơ “ Đôi mắt em 
như hai giếng nước
A. Ca ngợi vẻ đẹp của đôi mắt – vẻ đẹp của tình yêu.
B. Nhấn mạnh, khẳng định thái độ thách thức chống lại tác động của thời gian.
C. Khẳng định sự bất tử của nghệ thuật.
D. Những sáng tạo nghệ thuật làm giàu đẹp cho tâm hồn con người.
Câu 9. Viết đoạn văn ( Khoảng 5 – 7 dòng) bày tỏ quan điểm của em về việc sử 
dụng thời gian? 
Câu 10. Nêu ý nghĩa của bài thơ? ( Viết đoạn văn từ 5 – 7 câu) 
II. Phần viết: 
Có ý kiến cho rằng “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”. Em hiểu ý kiến 
trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng ” của Nguyễn 
Thế Hoàng Linh? 
 Ông ra vườn nhặt nắng
 Thơ thẩn suốt buổi chiều 
 Ông không còn trí nhớ
 Ông chỉ còn tình yêu 
 Bé khẽ mang chiếc lá 
 8 Đặt vào vệt nắng vàng 
 Ông nhặt lên chiếc nắng 
 Quẫy nhẹ, mùa thu sang 
 Gợi ý
Phần Câu Nội dung Điểm
 1 Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. 0.5
 2 Biểu cảm 0.5
 3 Ẩn dụ 0.5
 4 Những điều có sức sống mãnh liệt, trường tồn với thời 0.5
Đọc gian.
hiểu 5 Sự tồn tại mãi mãi với thời gian 0.5 
 6 Sự trôi chảy của thời gian làm thay đổi: khô những chiếc 0.5
 lá, làm lãng quên kỉ niệm (chỉ còn vang vọng như tiếng 
 sỏi rơi vào lòng giếng cạn) 
 7 Biểu tượng cho thiên nhiên và sự sống. 0.5
 8 Ca ngợi vẻ đẹp của đôi mắt – vẻ đẹp của tình yêu 0.5
 9 Biết quý trọng thời gian, trân trọng những gì đang có. 1.0
 - Sử dụng quỹ thời gian hiệu quả.
 - Sống trọn vẹn, có ý nghĩa trong từng phút giây của 
 cuộc đời.
 - Lưu giữ giá trị của bản thân để nó trường tồn và nối 
 tiếp ở thế hệ sau, khuất phục thời gian.
 10 Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả, thời gian tàn phá cuộc đời 1.0
 con người. Duy chỉ có cái đẹp của nghệ thuật và kỉ niệm 
 về tình yêu là có sức sống lâu dài, không bị thời gian 
 hủy hoại.Cái đẹp mãi trường tồn trước sự băng hoại,mài 
 mòn của thời gian.
Phần * Yêu cầu về hình thức: 
viết Đảm bảo bố cục ba phần đầy đủ
 - Bài viết có bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn 
 đạt trôi chảy; văn phong trong sáng, có cảm xúc, biết lấy 
 tp văn học để chứng minh cho một nhận định lí luận văn 
 học. 
 9 * Yêu cầu về nội dung : Đảm bảo được một số nội dung 
 cơ bản sau: 
 +) Mở bài: 
 Giới thiệu được vấn đề nghị luận và trích dẫn nhận định. 
 +) Thân bài:
 - Giải thích ngắn gọn nhận định “thơ ca bắt rễ từ lòng 
 người, nở hoa nơi từ ngữ”
 -Chứng minh: 
 + Luận điểm 1: Bài thơ “Ra vườn nhặt nắng” của 
 Nguyễn Thế Hoàng Linh đã “ bắt rễ” từ tiếng lòng của 
 đứa cháu nhỏ dành cho người ông đã già, không còn 
 minh mẫn của mình. 
 + Luận điểm 2: Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” của 
 Nguyễn Thế Hoàng Linh nở hoa nơi từ ngữ.
 + Đánh giá, mở rộng
 + Rút ra bài học cho người sáng tác và người tiếp nhận. 
 +) Kết bài:
 Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Bài tham khảo
1.Mở bài
(Có thể bắt đầu từ những nhận định: Nhà văn Nga Lêônít Lêônốp nhận định: 
"Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội 
dung")
 Andre Chenien từng nhận định"Nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ, trái tim mới làm 
nên thi sĩ". Thật vậy, thơ ca là thế giới tâm hồn, tình cảm, là những rung cảm sâu sắc 
trước cuộc đời của nhà thơ; thơ ca thể hiện những tình cảm phong phú, những cung 
bậc cảm xúc đa dạng, những góc nhìn đa chiều của người nghệ sĩ trước cuộc đời. 
Thêm vào đó thơ ca là nghệ thuật ngôn từ nên thơ ca được tạo nên bởi âm thanh, từ 
ngữ, hình ảnh sinh động, đẹp đẽ nhất. Cùng quan điểm đó, có ý kiến cho rằng “ Thơ 
ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”. Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” của 
Nguyễn Thế Hoàng Linh là bài thơ đã “ bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” ( 
Bài thơ...... của .......là bài thơ như thế) 
2. Thân bài: 
Giải thích: 
 Ý kiến trên bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thơ ca. Một tác 
phẩm thơ ca chân chính phải khởi phát từ tình cảm dạt dào của tác giả và được thể 
hiện bằng ngôn từ chắt lọc, chau chuốt. « Thơ ca bắt rễ từ lòng người » - thơ ra đời 
từ cảm xúc của chủ thể trữ tình trước thiên nhiên, tạo vật, cuộc sống, con 
người Thơ ca là tiếng nói chân thành của tình cảm. Thơ do tình cảm mà sinh ra. 
Thơ luôn thể hiện những rung cảm tinh tế, thẳm sâu trong lòng tác giả. Và để bài thơ 
 10 thực sự đi vào lòng người thì lời thơ bao giờ cũng được chắt lọc, giàu hình tượng, 
có khả năng gợi cảm xúc nơi người đọc tức « Nở hoa nơi từ ngữ ». Vẻ đẹp ngôn từ 
chính là yêu cầu bắt buộc đối với thơ ca. Thơ ca khởi nguồn từ cảm xúc của tác giả 
trước cuộc sống, thăng hoa nơi từ ngữ biểu hiện. Cái lớp ngôn từ bên ngoài đẹp đẽ 
sẽ chỉ là một thứ vỏ không hồn nếu nó chẳng chứa đựng một nội dung cao cả gây 
xúc động lòng người. Thơ không chỉ là chiều sâu suy ngẫm mà còn là sự chắt lọc 
kết tinh nơi ngôn từ, thơ đẹp còn bởi ngôn từ đẹp, giàu nhịp điệu, hình ảnh, âm điệu, 
âm hưởng, nhạc điệu thơ Người nghệ sĩ lấy những cảm xúc chân thành của mình 
ra để viết nên những vần thơ đẹp làm rung động lòng người, có như vậy tác phẩm 
mới sống lâu bền trong lòng độc giả. Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng ” của Nguyễn Thế 
Hoàng Linh là bài thơ có những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật (Bài thơ “ Ra 
vườn nhặt nắng” của NTHL là bài thơ đã “ bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”) 
* Chứng minh: 
Luận điểm 1. Bài thơ “Ra vườn nhặt nắng” của Nguyễn Thế Hoàng Linh đã “ 
bắt rễ” từ tiếng lòng của đứa cháu nhỏ dành cho người ông đã già, không còn 
minh mẫn của mình. 
 - Người ông chiều chiều tha thẩn đi dạo trong vườn trong ánh nắng cuối chiều của 
mùa thu, phải chăng khi con người ở vào cái tuổi “ xưa nay hiếm” thường hay lặng 
lẽ đón nhận tuổi già của mình cùng thiên nhiên?! Và nắng cuối chiều cũng là hình 
ảnh ẩn dụ cho tuổi của ông – cái tuổi không còn tinh anh nữa 
- Bằng cái nhìn trẻ thơ, trong veo, ăm ắp yêu thương của đứa cháu nhỏ, khổ thơ gợi 
hình ảnh người ông đã già thường góp nhặt niềm vui tuổi già vào mỗi buổi chiều nơi 
khu vườn nhỏ, hoà mình cùng thiên nhiên, cùng giọt nắng chiều nơi vườn nhà. Cuộc 
đời ông đã trải bao thăng trầm nhưng đến khi về già ông thanh thản, chẳng mấy bận 
tâm về chuyện đời, chuyện người. Tâm hồn ông giờ đây trong veo như giọt nắng thu 
nghiêng nghiêng mà ông gom lại cho tuổi già thêm niềm vui. 
- Dù thời gian đã hằn in trên cuộc đời của ông, trí nhớ ông không còn minh mẫn nữa 
nhưng tình yêu thương trong ông không bao giờ vơi cạn, ông vẫn luôn dành cho con 
cháu tất cả yêu thương “Ông không còn trí nhớ/ Ông chỉ còn tình yêu ”: bao yêu 
thương đong đầy ông dành cả cho đứa cháu nhỏ bên ông. 
- Khổ thơ gợi hình ảnh hai ông cháu một già một trẻ đang cùng cười vui, cùng nắm 
tay nhau đi dạo quanh khu vườn điều đó làm cho không gian thêm ấm áp, tình ông 
cháu thêm bền chặt. 
- Với con mắt quan sát tinh tế, tâm hồn nhạy cảm đứa cháu nhỏ cảm nhận về không 
gian mùa thu đã chạm ngõ
 Bé khẽ mang chiếc lá
 .
 Quẫy nhẹ mùa thu sang
 11 - Sắc vàng của lá hoà trong màu nắng tinh khôi làm nên vệt vàng lung linh, cả không 
gian như tràn ngập sắc vàng. Một chiếc lá vàng rụng xuống thật khẽ, thật nhẹ làm 
xao động không gian, xao động cả lòng trẻ thơ 
- Đứa cháu nhỏ như hiểu ý ông “ khẽ mang chiếc lá/ đặt vào vệt nắng vàng” để rồi “ 
Ông nhặt lên chiếc nắng”, cả hai ông cháu cùng đón nhận mùa thu sang. Thu sang 
thật êm dịu, không gian thu đang chuyển mình để rồi “ Quẫy nhẹ” – âm thanh mùa 
thu, tiếng thu đang cựa quậy, chuyển mình, bước chuyển mùa cũng thật khẽ khàng 
và dịu êm.
* Đánh giá:
Bài thơ là giọt lòng của đứa cháu nhỏ dành cho người ông kính yêu của mình. Đó 
chính là giọt trong vắt của yêu thương. Chính phép màu của yêu thương đã thu niềm 
vui tuổi già của ông vào trong giọt nắng. Bởi yêu thương tạo ra mọi kì diệu cả trong 
cuộc đời và trong nghệ thuật. Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” là sự cất tiếng của yêu 
thương để bồi đắp cái gốc yêu thương cho con người!
- Bài thơ lắng lại trong ta bao suy ngẫm: 
+ Biết trân trọng, kính yêu người thân trong gia đình
+ Biết mở rộng tâm hồn để lắng nghe, cảm nhận những biến chuyển của thiên nhiên, 
đất trời.
- Phải có tâm hồn tinh tế, yêu thiên nhiên tạo vật tha thiết nhà thơ mới có thể cảm 
nhận bước đi của thời gian, không gian thu tinh tế và chính xác đến vậy.
LĐ 2: Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” của Nguyễn Thế Hoàng Linh nở hoa nơi 
từ ngữ.
Ngôn ngữ giản dị - đó là ngôn ngữ ấu nhi thể hiện nét hồn nhiên, ngây thơ của trẻ 
nhỏ.
Lối viết hồn hậu, chân thật như lời tâm sự, thủ thỉ kể chuyện .
* Đánh giá, mở rộng:
 Nhận định “ thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” hoàn toàn đúng 
đắn bởi lẽ thơ ca bao giờ cũng phát khởi nơi tình cảm dạt dào của người nghệ sĩ và 
được thể hiện bằng ngôn từ chắt lọc, chau chuốt. Thơ là sự lên tiếng của trái tim, là 
rung động tâm hồn, là dòng cảm xúc chân thành, mãnh liệt từ đó nhà thơ bộc lộ cảm 
xúc của mình thông qua hệ thống ngôn từ giàu giá trị biểu cảm. Bài thơ “ Ra vườn 
nhặt nắng” của Nguyễn Thế Hoàng Linh là bài thơ “bắt rễ” từ tiếng lòng đứa cháu 
nhỏ yêu kính người ông của mình và thể hiện qua những ngôn từ trong sáng, gần 
gũi, giản dị, trong sáng – đó là ngôn ngữ ấu nhi rất đặc trưng của đồng dao.Vì lẽ đó, 
người nghệ sĩ phải có trái tim nhạy cảm, tinh tế, lao động nghiêm túc, tâm huyết với 
ngòi bút thì mới tạo nên những tác phẩm có giá trị sống mãi với thời gian. Còn bạn 
đọc cũng luôn khao khát được đón nhận những vần thơ tác tuyệt, được đồng sáng 
tạo cùng nhà thơ để thấu hiểu hơn bản thân, con người và cuộc đời.
 KB: Thơ ca là câu hát được vang lên và thăng hoa từ tận sâu nơi xúc cảm của 
người nghệ sĩ để rồi những tác phẩm được ra đời từ đó, thơ ca bắt rễ từ tiếng lòng 
 12 của người cầm bút và được nhà thơ tinh chắt ngôn ngữ để dệt nên cây đàn muôn điệu 
làm say đắm lòng người. “Ra vườn nhặt nắng” là bài thơ đã bắt rễ từ giọt lòng của 
Nguyễn Thế Hoàng Linh dành cho người ông đã già của mình và kết tinh từ tài nghệ 
thuật của nhà thơ. Bài thơ thực sự đã “Bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”.
 ----------------------------------------------------------
Đề 3: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
 Những mùa quả mẹ tôi hái được
 Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
 Những mùa quả lặn rồi lại mọc
 Khi mặt trời khi như mặt trăng
 Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
 Còn những bí và bầu thì lớn xuống
 Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
 Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi
 Và chúng tôi thứ quả ngọt trên đời
 Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
 Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
 Mình vẫn còn một thứ quả non xanh ?
 (Nguyễn Khoa Điềm)
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
 A. Tự do B. Tám chữ C. Bảy chữ D. Năm chữ 
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ?
A.Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Miêu tả
Câu 3.Từ "quả" trong những câu thơ nào được dùng với ý nghĩa tả thực?
 A. Câu 1,2 B. Câu 2,3 
 B. Câu 1,3 D. Câu 1,2 
Câu 4. Từ "quả" trong những câu thơ nào được dùng với ý nghĩa tượng trưng?
 A. Câu 9, 1 2 B. Câu 10,11 
 B. Câu 9,10 D. Câu 11,12
Câu 5. Nghĩa của “trông” ở dòng thơ Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng là gì?
 A. Sự trông chờ, niềm tin, hi vọng của mẹ vào những gì mà mẹ đã nhọc nhằn, 
 lam lũ, chăm sóc, nâng niu. Các con chính là sự trông chờ của mẹ, thành công 
 của các con chính là thứ “quả” mà mẹ mong chờ nhất.
 B. Sự mong mỏi của mẹ vào những đứa con yêu 
 C. Mẹ mong hái được những quả ngon do tay mẹ vun trồng
 D. Các con chính là sự trông chờ của mẹ, thành công của các con chính là thứ 
 “quả” mà mẹ mong chờ nhất.
Câu 6. Trong hai dòng thơ “Những mùa quả lặn rồi lại mọc - Như mặt trời, khi như 
mặt trăng” tác giả đã sử dụng biện pháp tu
 A. Nhân hoá B. So sánh
 13 C.Điệp ngữ và ẩn dụ D. Điệp ngữ và nhân hoá
Câu 7: Đặc sắc nghệ thuật của hai dòng thơ: Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên - Còn 
những bí và bầu thì lớn xuống là gì?
A. Sử dụng từ trái nghĩa. 
B. Sử dụng hình ảnh nhân hóa.
C. Sử dụng thủ pháp miêu tả. 
D. Sử dụng phép tương phản, đối lập.
Câu 7: Đặc sắc nghệ thuật của hai dòng thơ: Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên - Còn 
những bí và bầu thì lớn xuống là gì?
A. Sử dụng từ trái nghĩa. 
B. Sử dụng hình ảnh nhân hóa.
C. Sử dụng thủ pháp miêu tả. 
D. Sử dụng phép tương phản, đối lập.
Câu 8. Tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ và ẩn dụ ở hai câu thơ:
 “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
 Mình vẫn còn một thứ quả non xanh ?”
A. Tạo điểm nhấn về lòng biết ơn và sự ân hận như một thứ “tự kiểm” về sự chậm 
trễ thành đạt của người con chưa làm thỏa được niềm vui của mẹ. 
B. Tạo nhịp điệu êm ái cho câu thơ.
C. Chỉ sự già nua và sự ra đi của mẹ.
D. Chỉ sự dại dột hay chưa trưởng thành của người con.
Câu 9. Nêu nội dung chính của bài thơ ?( trả lời trong khoảng 5-7 dòng
Câu 10. Viết một đoạn văn ngắn ( 5 – 7 câu) nêu nội dung chính của em về hai câu 
thơ:
 “Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
 Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi”
II. Phần viết
Có ý kiến cho rằng “Đọc một câu thơ hay người ta không thấy câu thơ chỉ còn thấy 
tình người trong đó”. Hãy khám phá “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của mẹ” 
của Xuân Quỳnh? 
 Lời ru ẩn nơi nào
 Giữa mênh mang trời đất
 Khi con vừa ra đời
 Lời ru về mẹ hát
 Lúc con nằm ấm áp
 Lời ru là tấm chăn
 Trong giấc ngủ êm đềm
 Lời ru thành giấc mộng
 Khi con vừa tỉnh giấc
 Thì lời ru đi chơi
 14 Lời ru xuống ruộng khoai
 Ra bờ ao rau muống
 Và khi con đến lớp
 Lời ru ở cổng trường
 Lời ru thành ngọn cỏ
 Đón bước bàn chân con
 Mai rồi con lớn khôn
 Trên đường xa nắng gắt
 Lời ru là bóng mát
 Lúc con lên núi thẳm
 Lời ru cũng gập ghềnh
 Khi con ra biển rộng
 Lời ru thành mênh mông. 
( Đề tương tự: “Đọc một câu thơ hay nghĩa là ta bắt gặp tâm hồn một con người” 
(Atona Phrăng xơ). Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua bài thơ “ Lời ru của mẹ ” của 
Xuân Quỳnh? 
 Phần Câu Nội dung Điểm
 1 Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. 0.5
 2 Biểu cảm 0.5
 3 Câu 1,3 0.5
 4 Câu 9,12 0.5
 Đọc 5 Sự trông chờ, niềm tin, hi vọng của mẹ vào những gì mà 0.5 
 hiểu mẹ đã nhọc nhằn, lam lũ để chăm sóc. Các con chính là 
 sự trông chờ của mẹ, thành công của các con chính là 
 thứ “quả” mà mẹ mong chờ nhất.
 6 So sánh 0.5
 7 Sử dụng phép tương phản, đối lập. 0.5
 8 Tạo điểm nhấn về lòng biết ơn và sự ân hận như một thứ 0.5
 “tự kiểm” về sự chậm trễ thành đạt của người con chưa 
 thỏa được niềm vui của mẹ.
 9 - Nội dung chính của bài thơ: Bằng sự trải nghiệm cuộc 1.0
 sống, với một tâm hồn giàu duy tư trăn trở trước lẽ đời, 
 Nguyễn Khoa Điềm đã thức nhận được mẹ là hiện thân 
 của sự vun trồng bồi đắp để con là một thứ quả ngọt 
 15 ngào, giọt mồ hôi mẹ nhỏ xuống như suối nguồn bồi đắp 
 để những mùa quả thêm ngọt thơm. Quả không còn là 
 một thứ quả bình thường mà là “quả” của sự thành công, 
 là kết quả của suối nguồn nuôi dưỡng. Những câu thơ 
 trên không chỉ ngợi ca công lao to lớn của mẹ, của thế 
 hệ đi trước với thế hệ sau này mà còn lay thức tâm hồn 
 con người về ý thức trách nhiệm, sự đền đáp công ơn 
 sinh thành của mỗi con người chúng ta với mẹ.
 10 Có thể nói hai câu thơ “Chúng mang dáng giọt mồ hôi 1.0
 mặn / Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi” những câu thơ 
 tài hoa nhất trong bài, khắc sâu sự hy sinh thầm lặng của 
 mẹ và lòng biết ơn vô bờ của người con về công dưỡng 
 dục sinh thành của mẹ hiền. Hình ảnh “chúng mang 
 dáng giọt mồ hôi mặn” là kiểu hình ảnh so sánh, ví von 
 dáng bầu bí như giọt mồ hôi mặn của mẹ. Đó là hình 
 tượng giọt mồ hôi nhọc nhằn, kết tụ những vất vả hi sinh 
 của mẹ. Câu thơ “Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi” gợi 
 lên dáng vẻ âm thầm trong vất vả nhọc nhằn của mẹ để 
 vun xới những mùa quả tốt tươi. Qua đó ta thấy được 
 lòng biết ơn, kính trọng đối với đấng sinh thành của nhà 
 thơ.
 * Yêu cầu về hình thức: 
 Đảm bảo bố cục ba phần đầy đủ
 - Bài viết có bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn 
 đạt trôi chảy; văn phong trong sáng, có cảm xúc, biết lấy 
Phần tp văn học để chứng minh cho một nhận định lí luận văn 
Viết học. 
 * Yêu cầu về nội dung : Đảm bảo được một số nội dung 
 cơ bản sau: 
 +) Mở bài: 
 Giới thiệu được vấn đề nghị luận và trích dẫn nhận định. 
 +) Thân bài:
 -Chứng minh: 
 + Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm.
 - Luận điểm 1: “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của 
 mẹ” ( Xuân Quỳnh) là tình mẹ bao la, dạt dào, đầy 
 thương mến. 
 ( Dẫn chứng và phân tích dẫn chứng)
 16 Luận điểm 2: “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của 
 mẹ” ( Xuân Quỳnh) còn được thể hiện qua hình thức 
 nghệ thuật đặc sắc.
 ( Dẫn chứng và phân tích dẫn chứng)
 + Đánh giá, mở rộng và rút ra bài học cho người sáng 
 tác và người tiếp nhận. 
 +) Kết bài:
 Khẳng định lại vấn đề nghị luận.
Bài tham khảo
 MB: Có ý kiến cho rằng “Đọc một câu thơ hay nghĩa là ta bắt gặp tâm hồn 
một con người”. Thật vậy, thơ là thế giới tâm hồn,tình cảm, cảm xúc của con người, 
là nơi kí thác những tâm tư tình cảm mà người nghệ sĩ mang trong lòng. Bởi vậy, 
thật đúng đắn khi Atona Phăngxơ nhận định “ Đọc một câu thơ hay người ta không 
thấy câu thơ chỉ còn thấy tình người trong đó”. Đến với bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( 
Xuân Quỳnh) ta sẽ thấy “ tình người” - tình yêu thương vô bờ của mẹ dành cho con 
yêu qua lời ru ngọt ngào, tha thiết. 
 TB: 
*Giải thích: 
 Nhận định của Atona Phrăng xơ đã bàn về đặc trưng của thơ ca. ( Hoặc: Nhận 
định của Atona Phrăng xơ đã bàn về vai trò của tình cảm, cảm xúc trong thơ) Thơ là 
tiếng nói trữ tình, tiếng nói của trái tim mang tính cá thể sáng tạo của chủ thể trữ 
tình. Thơ là cuộc đời cũng là trái tim. Tình cảm trong thơ là một trong những yếu tố 
quan trọng đem đến sức rung động của thi ca. "Thơ muốn làm cho người ta khóc 
trước hết mình phải khóc. Thơ muốn làm cho người ta cười trước hết mình phải 
cười." bởi vậy để có được một câu thơ hay, để truyền tải được sợi dây tình cảm người 
nghệ sĩ mang trong lòng, câu thơ phải xuất phát từ cái tâm và cái tài của người cầm 
bút. .“Đọc ” là quá trình tiếp nhận, tìm hiểu, suy ngẫm thi phẩm, là đồng sáng tạo để 
cảm thấu những cảm xúc, vui buồn, yêu thương cùng nhà thơ. “Câu thơ hay” là câu 
thơ có giá trị về cả nội dung và hình thức, hình thức biểu hiện đồng nhất với nội 
dung, tình cảm của thơ làm rung động trái tim người đọc. Khi “đọc một câu thơ 
hay”, chúng ta không chỉ thấy câu thơ mà còn phát hiện, gặp gỡ, đồng cảm với những 
suy nghĩ,tư tưởng, tình cảm và cảm xúc của người nghệ sĩ. Câu thơ, bài thơ bao giờ 
cũng biểu đạt tư tưởng, tình cảm của nhà thơ, cảm xúc càng mãnh liệt, sâu sắc, càng 
thăng hoa thì càng lay động và ám ảnh trái tim bạn đọc. Đọc bài thơ “ Lời ru của 
mẹ” ( Xuân Quỳnh) ta gặp gỡ tình yêu thương của mẹ qua lời ru ngọt ngào, sâu lắng. 
Chứng minh: 
- Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm:
Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ được nhiều bạn trẻ yêu thích. Thơ Xuân Quỳnh thường 
viết về những tình cảm gần gũi, bình dị trong đời sống gia đình và cuộc sống thường 
ngày, như tình mẹ con, bà cháu, tình yêu, tình quê hương, đất nước, biểu lộ những 
 17 rung cảm và khát khao của một trái tim phụ nữ chân thành, tha thiết và đằm thắm. 
Bài thơ “ Lời ru của mẹ” là bài thơ nằm trong mạch nguồn nhũng bài thơ viết về tình 
cảm gần gũi,yêu thương ấy.
- Luận điểm 1: “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) là 
tình mẹ bao la, dạt dào, đầy thương mến. Có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của 
mẹ? Có lời ru nào ngọt ngào, tha thiết hơn lời mẹ ru con?.... Nghe lời ru ầu ơ của mẹ 
trong bài thơ ta được trở về sống lại tuổi thơ như trong truyện cổ tích thần kỳ, giàu 
biến hóa, tất cả khởi nguồn từ tình thương yêu bao la của mẹ. Lời ru của mẹ theo 
con trên khắp hành trình dài rộng của cuộc đời, từ khi con vừa ra đời lời ru đã ẩn 
giữa đất trời bay về trú ngụ. Lời ru thật diệu kỳ, như có phép thần tiên, điều đó đã 
được nhà thơ triển khai trong suốt toàn bộ thi phẩm.
 + Lời ru yêu thương gắn với tuổi hồng, tuổi nụ. Tuổi càng thơ dại , lời ru càng 
tha thiết, mê say. 
 + Lời ru còn biết “đi chơi” khi con thức giấc, thậm chí biết xuống ruộng khoai 
hay “ra bờ ao rau muống” lúc mẹ làm việc.
=> Qua lời ru hình ảnh người mẹ lam lũ, khó nhọc sau lũy tre xanh. Nhờ đó, người 
mẹ hiện lên vừa giàu lòng yêu thương, nhân hậu, vừa mang vẻ đẹp chất phác của 
người lao động 
 + Không những bên con trong giấc ngủ say nồng, lời ru còn bên con khi con 
đùa vui, chạy nhảy, lời ru của mẹ còn theo con đến lớp mỗi ngày. Buổi con tan học 
về, có mẹ đón đưa, lúc ấy lời ru cũng ngân nga qua từng lời nói yêu thương, từng cử 
chỉ dịu dàng. Lời ru hóa thành vòng tay, thành ngọn cỏ đón bước chân con lon ton 
sau giờ tan học 
 + Con lớn khôn, lời ru của mẹ vẫn không xa vắng, vẫn ở bên con chia sẻ ngọt 
bùi. Lời ru hóa thành bóng râm dịu mát trên đường xa nắng gắt lúc con qua. Lời ru 
cũng đồng hành cùng con lúc gập ghềnh dâu bể. Lời ru hóa thành mênh mông khi 
con được hiển vinh, vươn ra biển lớn với người đời.
* Lời ru của mẹ thật diệu kỳ, nhân hậu biết bao, yêu thương đong đầy, lời ru ngọt 
ngào từ tấm lòng người mẹ vẫn theo mãi trọn đời con, từ tuổi ấu thơ cho đến lúc 
trưởng thành, dù phải qua bao khó khăn, ghềnh thác. Từ suối nguồn yêu thương của 
mẹ qua lời hát ru ầu ơ, ngọt ngào của mẹ con khôn lớn và trưởng thành, từ đó con 
biết trân quý tình mẹ, biết ơn, kính yêu mẹ! 
Luận điểm 2: “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) còn 
được thể hiện qua hình thức nghệ thuật đặc sắc. Viết về đề tài muôn thuở trong 
tình cảm con người nhưng những lời thơ của Xuân Quỳnh vẫn luôn tươi mới, ngọt 
ngào. Lời thơ tự nhiên, cảm xúc thơ chân thành, đặc biệt nữ sĩ Xuân Quỳnh đã tạo 
được tứ thơ đặc sắc nên thi phẩm đằm sâu nơi trái tim người đọc 
* Đánh giá, mở rộng: 
 18 Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn,bởi lẽ thơ là thế giới tâm hồn, tình cảm của 
con người, là những cảm xúc, rung động, những suy tư, trăn trở về cuộc đời của 
người cầm bút có như vậy, thơ mới lay động và neo đậu trong lòng người. Thơ hay 
là thơ lay động tâm hồn con người bằng cảm xúc, tình cảm. Song để có thơ hay, nhà 
thơ bên cạnh sự sâu sắc của tình cảm, sự phong phú của cảm xúc cần nghiêm túc, 
nhiệt huyết trong lao động nghệ thuật. Với người đọc thơ, đến với bài thơ là để trải 
nghiệm một tâm trạng, một cảm xúc và kiếm tìm sự tri âm. Do vậy, khi tìm đến một 
tác phẩm thơ, người đọc quan tâm nhiều tới cảm xúc, tới tình cảm mà nhà thơ kí 
thác. Bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) đã mang đến cho người đọc tình mẫu 
tử thiêng liêng, cao đẹp, khơi dậy trong lòng bạn đọc những tình cảm cao đẹp với 
gia đình, quê hương, đất nước. Bài thơ đã đi vào lòng người bởi tình cảm ấm nồng, 
tình yêu thương con vô bờ của mẹ.
 KB: 
Đọc thơ, là đọc “ Cái mạch ngầm văn bản phía sau”, đằng sau những con chữ, bạn 
đọc cảm thấu tâm tư, nỗi lòng, tư tưởng, tình cảm của nhà thơ, cùng đồng điệu với 
tiếng lòng nhà thơ. Niềm vui của người đọc thơ là bắt gặp tâm tình, tâm hồn nhà thơ 
để từ đó thăng hoa trong cảm xúc. Khi đọc “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) bạn đọc 
“ không chỉ thấy câu thơ mà còn thấy tình người trong đó”, thấy được, cảm được 
“tình mẹ bao la như biển Thái Bình” trong từng lời thơ, câu thơ. 
 -----------------------------------------
Đề 4. Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi:
 Nắng Ba Đình mùa thu
 Thắm vàng trên lăng Bác
 Vẫn trong vắt bầu trời
 Ngày tuyên ngôn Độc lập. 
 Ta đi trên quảng trường
 Bâng khuâng như vẫn thấy
 Nắng reo trên lễ đài
 Có bàn tay Bác vẫy. 
 Ấm lòng ta biết mấy
 Ánh mắt Bác nheo cười
 Lồng lộng một vòm trời
 Sau mái đầu của Bác... 
 (Nắng Ba Đình – Nguyễn Phan Hách) 
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
 A. Tự do B. Tám chữ C. Ngũ ngôn D. Bảy chữ 
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ?
A.Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Miêu tả
Câu 3: Đoạn thơ trên gợi nhớ đến sự kiện lịch sử nào của nước ta? 
 19 A. Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2.9.1945
B. Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 3.9.1945
C. Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước ngày 5.6. 1911
D. Bác Hồ trở về sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài.
Câu 4. Từ “ bâng khuâng” thuộc loại từ gì? 
 A. Từ ghép B. Từ láy 
 C. Từ ghép chính phụ C. Từ láy bộ phận
Câu 5. Từ “ vẫn” trong câu thơ “ Vẫn trong vắt bầu trời” thuộc từ loại nào? 
 A. Danh từ B. Tính từ C. Động từ D. Phó từ 
Câu 6. Từ “ thắm vàng” trong câu thơ “ thắm vàng trên lăng Bác” có ý nghĩa gì? 
A.Sự tươi tắn, sáng trong của nắng trời, cả ánh nắng huy hoàng từ sao vàng cờ đỏ, 
có cả ánh sáng kiêu hãnh tự hào của tấm lòng một công dân độc lập, lòng biết ơn 
sâu nặng của một người con đối với Bác Hồ. 
B.Sự tươi tắn, sáng trong của nắng trời. 
C.Sự tươi tắn, sáng trong của nắng trời, cả ánh nắng huy hoàng từ sao vàng cờ đỏ 
rực rỡ tung bay trong gió. 
D.Sự tươi tắn, sáng trong của nắng trời, cả ánh nắng huy hoàng từ sao vàng cờ đỏ, 
có cả ánh sáng kiêu hãnh tự hào của tấm lòng một công dân độc lập.
Câu 7. Câu thơ “ Nắng Ba Đình mùa thu” sử dụng biện pháp tu từ nào? 
 A. So sánh. B. Nhân hoá C. Ẩn dụ. D. Điệp ngữ.
Câu 8. Nội dung chính của bài thơ là gì? 
 A. Bài thơ với lời lẽ nhẹ nhàng, da diết bộc lộ niềm biết ơn, công lao to lớn của 
 Bác Hồ kính yêu. Lòng tự hào vào thời khắc đất nước được độc lập.
 B. Bài thơ với lời lẽ nhẹ nhàng, da diết bộc lộ niềm biết ơn, công lao to lớn của 
 Bác Hồ kính yêu. 
 C. Bài thơ thể hiện lòng tự hào vào thời khắc đất nước được độc lập.
 D. Niềm vui của toàn dân khi nước nhà được độc lập
Câu 9: Hãy chỉ ra biện pháp tu từ và cho biết hiệu quả của biện pháp tu từ được sử 
dụng trong đoạn thơ: 
 Ta đi trên quảng trường
 Bâng khuâng như vẫn thấy
 Nắng reo trên lễ đài
 Có bàn tay Bác vẫy. 
Câu 10: Trình bày cảm xúc của mình về sự kiện trọng đại được nhắc đến trong 
đoạn thơ trên bằng một đoạn văn khoảng 5 -7 dòng. 
II. Phần viết
Đôi bàn tay mẹ? 
 Phần Câu Nội dung Điểm
 20

Tài liệu đính kèm:

  • docxbo_16_de_hoc_sinh_gioi_mon_ngu_van_7.docx