BỘ ĐỀ HSG L7 Đề 1: Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Bầu trời trên giàn mướp (Hữu Thỉnh) Thu ơi thu ta biết nói thế nào sương mỏng thế ai mà bình tĩnh được hứa hẹn bao nhiêu bầu trời trên giàn mướp lúc hoa vàng thu mới chập chờn thu ngỡ như không phải vất vả chi nhiều sau tiếng sấm thế là trời mới mẻ quả đã buông thủng thẳng xuống bờ ao ta cứ tưởng đất sinh sôi thật dễ trời thu xanh và hoa mướp thu vàng thưa mẹ những năm bom nơi con không thể có bến phà con đã qua, rừng già con đã ở gặp vạt lúa nương con cũng viết thư về nên không dám dù một giây sao nhãng bầu trời này từng dẫn dắt con đi. (Theo www.nhavantphcm.com.vn, 20/9/2014) Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? A. Tự do B. Tám chữ C. Lục bát D. Năm chữ Câu 2. Từ “ thủng thẳng” là loại từ nào? A. Từ đơn B. Từ ghép C. Từ láy D. Từ ghép tổng hợp Câu 3. Bài thơ có bố cục mấy phần? A. Ba phần B. Hai phần c. Bốn phần D. Một phần Câu 4. Tín hiệu đầu tiên của mùa thu được tác giả cảm nhận là hình ảnh nào? A. Hương ổi B. Làn sương mỏng C. Hoa cúc D. Trời xanh Câu 5. Bài thơ là lời của ai nói với ai? A. Con nói với mẹ B. Cháu nói với bà B. Anh nói với em D. Cha nói với con Câu 6. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là? A. Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Miêu tả. Câu 7. Khung cảnh thiên nhiên của mùa nào được gợi tả qua tác phẩm? A. Mùa hạ B. Mùa thu C. Mùa đông D. Mùa xuân 1 Câu 8. Nội dung chính của khổ thơ thứ nhất là gì? A.Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu qua hình ảnh bầu trời xanh và giàn mướp hoa vàng. B. Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu. C. Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu qua hình ảnh giàn mướp hoa vàng. D. Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu qua hình ảnh bầu trời xanh Câu 9. Nêu nội dung chính của hai khổ thơ sau? Câu 10. Viết đoạn văn ( 5 – 7 dòng) nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của hình ảnh thơ: trời thu xanh và hoa mướp thu vàng ? II. Phần viết: Phân tích đặc điểm nhân Dế Mèn trong đoạn trích “ Tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa” ( Trích “ Dế Mèn phiêu lưu kí” ) của Tô Hoài? Tiếng ông cụ gọi loa vang đài. Ai nấy lặng yên nghe. Bỗng một tiếng đáp vang động : “Có ta đây!” Rồi anh chàng Bọ Ngựa ban nãy vừa lôi thôi với tôi, nhảy vót lên. Cơ nguy cho Trũi, vì xem anh chàng Trũi đã có vẻ mệt. Vả lại, thấy Bọ Ngựa ngông ngáo, nhớ chuyện ban nãy ở quán hàng, cái bực mình trong tôi tức tốc trở lại. Tôi nhảy phắt lên đài, quát: - Khoan khoan, đây trước đã, Nhớ hẹn chứ? Bọ ngựa lùi lại rồi “à” một tiếng rõc to, nghênh hai thanh gươm lên – vẫn một điệu tự cao, tự đại như thế. Lại như lệ trên trường đấu ngày ấy, trước khi vào cuộc, mỗi bên biểu diễn một vài đường quyền, theo sở trường của mình. Bọ ngựa đứng vươn mình, đi bài song kiếm. Bóng kiếm loang loáng, mù mịt như hoa may điệu bộ khá đẹp mắt. Tôi chẳng cần đi bài gì hết. Tôi đứng nghiêng người về đằng trước, hếch hai càng lên. Cứ hai càng ấy, tôi ra oai sức khoẻ, đạp phóng tanh tách liên tiếp một hồi gió tuôn thành từng luồng xuống bay tốc cả áo xanh, áo đỏ các cô Cào Cào đứng gần. Lúc vào đấu, Bọ Ngựa cao nên lợi đòn. Hai gươm hắn bổ xuống đầu tôi chan chát. Nhưng đầu tôi đầu gỗ lim tôi lựa cách đỡ, không vần gì hết. Còn tôi đoản người, tôi nhè bụng hắn mà đá, khiến có lúc hắn phải hạ gươm xuống đỡ, mất đà, đâm loạng choạng. Biết không chém được đầu tôi, hắn liền đổi miwngs ác, co gươm, quặp cổ tôi. Hắn định lách gươm nghiêng vào khe họng – chỗ hiểm, cuống họng tôi có khe thịt dễ đứt. Thấy thế nguy, tôi gỡ đòn, cúi xuống, thúc nhanh một răng rất sâu vào bụng hắn. Choáng người, Bọ Ngựa nhảy lộn qua lưng tôi. Tôi cũng chỉ đợi có thế . Vừa đúng là càng – lừa vào miếng võ gia truyền của nhà Dế, tôi lấy tấn, đá hậu đánh phách một đá trời giáng vào giữa mặt anh chàng. Chàng Bọ Ngựa kiêu 2 ngạo rú lên một tiếng bắn tung lên trời, rơi tọt ra ngoài võ đài, ngã vào đám đông xôn xao. Gợi ý : Phần Câu Nội dung Điểm 1 Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. 0.5 2 Từ láy 0.5 3 Bố cục của bài thơ: 2 phần 0.5 4 Làn sương mỏng 0.5 Đọc 5 Lời con nói với mẹ 0.5 hiểu 6 Biểu cảm 0.5 7 Mùa thu 0.5 8 Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên mùa thu qua hình 0.5 ảnh bầu trời xanh và giàn mướp hoa vàng. 9 Nội dung chính của hai khổ sau: Nỗi niềm xúc động của 1.0 tác giả khi đối diện với khung cảnh hiện tại và hoài niệm về quá khứ. 10 Trời thu xanh và hoa mướp thu vàng là những hình ảnh 1.0 đẹp, hài hòa về màu sắc. Sắc xanh của bầu trời và sắc vàng của hoa mướp mở ra không gian khoáng đạt, cao rộng, gợi sự bình yên, thanh thản, nhẹ nhõm trong tâm hồn con người. Phần a.Yêu cầu về hình thức: Viết - Bài viết có bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt trôi chảy; văn phong trong sáng, có cảm xúc, đảm bảo đúng thể loại phân tích đặc điểm nhân vật. b. Yêu cầu nội dung: Đảm bảo một số vấn đề cơ bản sau: +) Mở bài - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và nêu đặc điểm chung về nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích. + ) Thân bài: 3 - Dế Mèn đĩnh đạc, chững chạc, lịch thiệp trong màn diện kiến võ sĩ Bọ Ngựa . + Mèn đi trẩy hội hoa may cùng họ Chuồn Chuồn với hăm hở của một tráng sĩ và có cơ hội tham gia cuộc thi võ đỏ kén ai tài giỏi nhất đứng ra coi sóc việc chung trong vùng. + Chưa lên võ đài, nhưng Mèn đã có vinh dự lớn "sơ kiến" võ sĩ Bọ Ngựa. Võ sĩ có "bước chân ngỗng", con mắt "đu đưa", lưỡi có "răng cưa". Hai lưỡi gươm lợi hại cắp bên mạng sườn. Hai sợi râu "phất lên phất xuống". Rất "hách dịch", đi đứng "ra lối quan dạng" tỏ vẻ ta đây, coi thiên hạ bằng nửa con mắt! + Tại quán hàng cỏ, võ sĩ Bọ Ngựa đã "bổ luôn" một nhát gươm vào đầu Mèn "đau điếng" vì cái tội đi đứng "đủng đỉnh" mục hạ vô nhân của Mèn. Mèn "đá hậu cú song phi" nhưng võ sĩ Bọ Ngựa đã né được! + Dưới mắt Mèn thì Bọ Ngựa chỉ có "mấy miếng võ xoàng", "cái oai rơm rác và lố bịch" ấy chẳng cần để mắt đến. Võ sĩ Bọ Ngựa là "cháu đích tôn cụ võ sư Bọ Ngựa", phen này sẽ tranh được "chân trạng võ", ai cũng sợ và tin như thế nên bác Cành Cạch đã hết lời khuyên Dế Mèn "mau mau tránh đi nơi khác...". - Dế Mèn trong cuộc đấu võ thực sự là một trang tuấn kiệt + Lúc đầu Mèn chỉ “ ra oai sức khoẻ” hếch đôi càng mẫm bóng "đạp phóng tanh tách" tuôn ra những luồng gió lớn...Cả hai đã trải qua ba hiệp, cả hai võ sĩ xông vào nhau nhau ra đòn bằng tuy lực và sở trường của mình, với những thể đánh, những miếng võ cực hiếm nhằm đánh gục đối thủ. + Hiệp một, lợi thế nghiêng về võ sĩ Bọ ngựa. Bọ Ngựa "cao nên lợi đòn" đã dùng hai gươm bổ xuống đầu Mèn những nhát "chan chát". Mèn dùng "đầu gỗ lim" để chống đỡ, đồng thời áp sát vào đánh gần, cứ "nhè bụng" 4 Bọ Ngựa mà đá, khiến địch thủ phải "hạ gươm xuống đỡ, mất đà đầu loạng choạng". Mèn đã đánh thấp, đánh gần, công thủ mưu trí nên về sau giành được thế chủ động làm cho võ sĩ Bọ Ngựa rối loạn đấu pháp. + Hiệp hai, Bọ Ngựa "đổi miếng ác", co gươm quắp cổ Mèn, "định lách gươm nghiêng vào khe họng" của Mèn, nơi có khe thịt dễ đứt! Mèn đã nhanh trí đổi công "cúi xuống, thúc nhanh một văng rất sâu vào bụng" Bọ Ngựa, làm cho địch thủ "choáng người". + Hiệp ba, Bọ Ngựa thất thế hoàn toàn "nhảy lộn qua lưng Mèn". Và Mèn đã bôi một đòn hiểm, giáng một đòn quyết định, hạ đo ván cháu đích tôn cụ võ sư Bọ Ngựa. Mèn lấy tấn, đá hậu đánh phách một đá trời giáng vào giữa mặt Bọ Ngựa làm cho hắn "rú lên" rơi tọt xuống võ đài. Đó là miếng võ gia truyền của họ nhà dế. Đám hội trở nên ồn ào nhốn nháo vì không ai ngờ võ sĩ Bọ Ngựa lại "thua nhanh và thua đau" như thế! => Dế Mèn và Dế Trũi được đám hội tôn lên làm chánh, phó thủ lĩnh đứng đầu các làng trong vùng cỏ may. Cả hai được đám hội xô vào làm kiệu rước. Dế Mèn đã đạt tới vinh quang tột đỉnh trên con đường phiêu lưu. Cuộc tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa là một trang đời phiêu lưu của chú Dế Mèn đáng yêu. * Đọc chương "Tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa", ta cảm thấy mình như đang được mục kích những cuộc giao đấu so tài của các trang hiệp sĩ thời trung cổ. Tô Hoài đã sử dụng rất hay một số từ ngữ về võ thuật như: giang hồ, võ đồng môn, song kiếm, chùy, lên tấn, miếng võ, đường quyền, đá hậu, tranh lèo giật giải..., gợi tả không khí đua tranh của khách giang hồ thượng võ. Qua đoạn văn này, ta thấy nhân vật Dế Mèn thật đáng yêu. Chú đã có một lối sống cao đẹp, đàng hoàng trước thiên hạ, dám đọ trí, đua tài với người đời. Không còn nữa một Dế Mèn hung hăng ngổ ngáo. Chỉ thấy bấy giờ, một Dế 5 Mèn khiêm cung, độ lượng, biết trọng danh dự của mình. Khi ấy trước anh chàng Bọ Ngựa kiêu căng, Dế Mèn đã chiến thắng trong tiếng hoan hô cuồng nhiệt. Dế Mèn đánh thắng võ sĩ Bọ Ngựa đâu chỉ để tranh lèo giật giải mà còn thể hiện một cách ứng xử của các hảo hán, anh hùng xưa nay: "Anh hùng tiếng đã gọi rằng Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!" ( “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) -) Nhân vật Dế Mèn trong “Tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa” được xây dựng bằng những hình thức nghệ thuật đặc sắc. - Nghệ thuật tả loài vật, tả hoạt cảnh, lối kể chuyện có thắt, có mở, tạo đỉnh điểm cao trào của cuộc tranh hùng giữa võ sĩ Bọ Ngựa và Dế Mèn... vô cùng hấp dẫn. + Tô Hoài đã quan sát các con vật hết sức kỹ lưỡng, tinh tế từ hình dáng bên ngoài, đến từng chi tiết, từng hoạt động. Ông khéo léo vận dụng các giác quan, chọn góc nhìn phù hợp, trình tự quan sát hợp lý để khắc họa nhân vật đúng với đặc điểm giống loài, hợp với cái nhìn trong trẻo, thơ ngây đầy khám phá của trẻ thơ. Tô Hoài có khả năng hóa thân vào sự sống của loài vật đồng thời lại thổi vào thế giới loài vật sự sống của con người. Sự chung sống, hòa trộn của hai thế giới ấy tạo nên sức hấp dẫn mãnh liệt cho đoạn trích nói riêng và của tác phẩm nói chung. Dế Mèn trong “ Tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa” trích “ Dế Mèn phiêu lưu ký” mang tính nhân hóa khi được khắc họa có hành động, ngôn ngữ, có đời sống nội tâm và được đặt trong những mối quan hệ mang tính xã hội thể hiện tính cách người của nhân vật. Mèn có đời sống nội tâm phong phú với những suy nghĩ, ước ao, khát vọng và cả những toan tính đời thường. Điều đó khiến nhân vật mang đậm hơi thở cuộc sống, gần gũi với con người. Mèn khát khao cháy bỏng một khát vọng lên đường, để mỗi bước đi sẽ thấy một sự đổi thay, mỗi sáng mỗi chiều sẽ thấy một cảnh lạ, sẽ gặp gỡ nhiều người. 6 + Việc sử dụng phép nhân hóa và ẩn dụ đã khiến cho nhân vật Dế Mèn vô cùng sinh động. Dế Mèn - một thanh niên, sống có lý tưởng, coi thường tiền tài danh vọng, sẵn sàng xả thân, trừng trị kẻ hống hách, hăng say hoạt động để phụng sự lý tưởng được đặt cạnh Bọ Ngựa là hạng người kiêu ngạo khoác lác khiến cho thế giới loài vật hiện lên vô cùng hấp dẫn. +Với vốn sống phong phú, tài quan sát sắc sảo, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ giàu có và sáng tạo độc đáo Tô Hoài tạo ra chân dung nhân vật Dế Mèn và các loài vật khác vô cùng sinh động mở ra một thế giới nghệ thuật kỳ thú, vượt lên thời gian, đem lại niềm vui thích không chỉ cho trẻ em mà ngay cả với người lớn +) Kết bài: Khẳng định lại vẻ đẹp nhân vật Dế Mèn – tinh thần thượng võ của Mèn trong đoạn trích. ---------------------------------------------- Đề 2: Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: THỜI GIAN Thời gian qua kẽ tay Làm khô những chiếc lá Kỷ niệm trong tôi Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn Riêng những câu thơ còn xanh Riêng những bài hát còn xanh Và đôi mắt em như hai giếng nước. (Theo Văn Cao, cuộc đời và tác phẩm, NXB Văn học, 1996, tr.80) Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? A. Tự do B. Tám chữ C. Bảy chữ D. Năm chữ Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là ? A.Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Miêu tả Câu 3. Hai câu thơ “Riêng những câu thơ còn xanh Riêng những bài hát còn xanh” Sử dụng biện pháp tu từ nào? A. Nhân hoá B. Ẩn dụ C.Điệp ngữ và ẩn dụ D. Điệp ngữ và nhân hoá Câu 4 7 Cụm từ “những câu thơ”, “những bài hát” trong hai câu thơ 5 và 6 có ý nghĩa gì ? A. Những điều có sức sống mãnh liệt, trường tồn với thời gian. B. Những điều bình dị trong cuộc sống. C. Cái đẹp luôn tiềm ẩn trong cuộc sống của chúng ta. D. Những điều lớn lao trong cuộc sống Câu 5. Từ “còn xanh” trong hai câu thơ 5 và 6 diễn tả điều gì? A. Màu xanh của lá B. Sự tồn tại mãi mãi với thời gian C. Cái bình dị của cuộc sống luôn bất diệt D. Vẻ đẹp của nghệ thuật. Câu 6. Sự trôi chảy của thời gian làm thay đổi những điều gì? A. Khô những chiếc lá, làm lãng quên kỉ niệm (chỉ còn vang vọng như tiếng sỏi rơi vào lòng giếng cạn) B. Những câu thơ, những bài hát và đôi mắt em. C. Những câu thơ, những bài hát D. Khô những chiếc lá, Câu 7. Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc lá trong câu thơ thứ hai? A.Biểu tượng về dòng chảy của thời gian , tác động nghiệt ngã của thời gian với con người và sự sống. B. Biểu tượng cho thiên nhiên và sự sống. C. Biểu tượng cho cái đẹp D. Biểu tượng cho sự vĩnh hằng. Câu 8. Nêu hiệu quả của phép tu so sánh được sử dụng trong câu thơ “ Đôi mắt em như hai giếng nước A. Ca ngợi vẻ đẹp của đôi mắt – vẻ đẹp của tình yêu. B. Nhấn mạnh, khẳng định thái độ thách thức chống lại tác động của thời gian. C. Khẳng định sự bất tử của nghệ thuật. D. Những sáng tạo nghệ thuật làm giàu đẹp cho tâm hồn con người. Câu 9. Viết đoạn văn ( Khoảng 5 – 7 dòng) bày tỏ quan điểm của em về việc sử dụng thời gian? Câu 10. Nêu ý nghĩa của bài thơ? ( Viết đoạn văn từ 5 – 7 câu) II. Phần viết: Có ý kiến cho rằng “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”. Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng ” của Nguyễn Thế Hoàng Linh? Ông ra vườn nhặt nắng Thơ thẩn suốt buổi chiều Ông không còn trí nhớ Ông chỉ còn tình yêu Bé khẽ mang chiếc lá 8 Đặt vào vệt nắng vàng Ông nhặt lên chiếc nắng Quẫy nhẹ, mùa thu sang Gợi ý Phần Câu Nội dung Điểm 1 Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. 0.5 2 Biểu cảm 0.5 3 Ẩn dụ 0.5 4 Những điều có sức sống mãnh liệt, trường tồn với thời 0.5 Đọc gian. hiểu 5 Sự tồn tại mãi mãi với thời gian 0.5 6 Sự trôi chảy của thời gian làm thay đổi: khô những chiếc 0.5 lá, làm lãng quên kỉ niệm (chỉ còn vang vọng như tiếng sỏi rơi vào lòng giếng cạn) 7 Biểu tượng cho thiên nhiên và sự sống. 0.5 8 Ca ngợi vẻ đẹp của đôi mắt – vẻ đẹp của tình yêu 0.5 9 Biết quý trọng thời gian, trân trọng những gì đang có. 1.0 - Sử dụng quỹ thời gian hiệu quả. - Sống trọn vẹn, có ý nghĩa trong từng phút giây của cuộc đời. - Lưu giữ giá trị của bản thân để nó trường tồn và nối tiếp ở thế hệ sau, khuất phục thời gian. 10 Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả, thời gian tàn phá cuộc đời 1.0 con người. Duy chỉ có cái đẹp của nghệ thuật và kỉ niệm về tình yêu là có sức sống lâu dài, không bị thời gian hủy hoại.Cái đẹp mãi trường tồn trước sự băng hoại,mài mòn của thời gian. Phần * Yêu cầu về hình thức: viết Đảm bảo bố cục ba phần đầy đủ - Bài viết có bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt trôi chảy; văn phong trong sáng, có cảm xúc, biết lấy tp văn học để chứng minh cho một nhận định lí luận văn học. 9 * Yêu cầu về nội dung : Đảm bảo được một số nội dung cơ bản sau: +) Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và trích dẫn nhận định. +) Thân bài: - Giải thích ngắn gọn nhận định “thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” -Chứng minh: + Luận điểm 1: Bài thơ “Ra vườn nhặt nắng” của Nguyễn Thế Hoàng Linh đã “ bắt rễ” từ tiếng lòng của đứa cháu nhỏ dành cho người ông đã già, không còn minh mẫn của mình. + Luận điểm 2: Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” của Nguyễn Thế Hoàng Linh nở hoa nơi từ ngữ. + Đánh giá, mở rộng + Rút ra bài học cho người sáng tác và người tiếp nhận. +) Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận Bài tham khảo 1.Mở bài (Có thể bắt đầu từ những nhận định: Nhà văn Nga Lêônít Lêônốp nhận định: "Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung") Andre Chenien từng nhận định"Nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ, trái tim mới làm nên thi sĩ". Thật vậy, thơ ca là thế giới tâm hồn, tình cảm, là những rung cảm sâu sắc trước cuộc đời của nhà thơ; thơ ca thể hiện những tình cảm phong phú, những cung bậc cảm xúc đa dạng, những góc nhìn đa chiều của người nghệ sĩ trước cuộc đời. Thêm vào đó thơ ca là nghệ thuật ngôn từ nên thơ ca được tạo nên bởi âm thanh, từ ngữ, hình ảnh sinh động, đẹp đẽ nhất. Cùng quan điểm đó, có ý kiến cho rằng “ Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”. Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” của Nguyễn Thế Hoàng Linh là bài thơ đã “ bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” ( Bài thơ...... của .......là bài thơ như thế) 2. Thân bài: Giải thích: Ý kiến trên bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thơ ca. Một tác phẩm thơ ca chân chính phải khởi phát từ tình cảm dạt dào của tác giả và được thể hiện bằng ngôn từ chắt lọc, chau chuốt. « Thơ ca bắt rễ từ lòng người » - thơ ra đời từ cảm xúc của chủ thể trữ tình trước thiên nhiên, tạo vật, cuộc sống, con người Thơ ca là tiếng nói chân thành của tình cảm. Thơ do tình cảm mà sinh ra. Thơ luôn thể hiện những rung cảm tinh tế, thẳm sâu trong lòng tác giả. Và để bài thơ 10 thực sự đi vào lòng người thì lời thơ bao giờ cũng được chắt lọc, giàu hình tượng, có khả năng gợi cảm xúc nơi người đọc tức « Nở hoa nơi từ ngữ ». Vẻ đẹp ngôn từ chính là yêu cầu bắt buộc đối với thơ ca. Thơ ca khởi nguồn từ cảm xúc của tác giả trước cuộc sống, thăng hoa nơi từ ngữ biểu hiện. Cái lớp ngôn từ bên ngoài đẹp đẽ sẽ chỉ là một thứ vỏ không hồn nếu nó chẳng chứa đựng một nội dung cao cả gây xúc động lòng người. Thơ không chỉ là chiều sâu suy ngẫm mà còn là sự chắt lọc kết tinh nơi ngôn từ, thơ đẹp còn bởi ngôn từ đẹp, giàu nhịp điệu, hình ảnh, âm điệu, âm hưởng, nhạc điệu thơ Người nghệ sĩ lấy những cảm xúc chân thành của mình ra để viết nên những vần thơ đẹp làm rung động lòng người, có như vậy tác phẩm mới sống lâu bền trong lòng độc giả. Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng ” của Nguyễn Thế Hoàng Linh là bài thơ có những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật (Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” của NTHL là bài thơ đã “ bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”) * Chứng minh: Luận điểm 1. Bài thơ “Ra vườn nhặt nắng” của Nguyễn Thế Hoàng Linh đã “ bắt rễ” từ tiếng lòng của đứa cháu nhỏ dành cho người ông đã già, không còn minh mẫn của mình. - Người ông chiều chiều tha thẩn đi dạo trong vườn trong ánh nắng cuối chiều của mùa thu, phải chăng khi con người ở vào cái tuổi “ xưa nay hiếm” thường hay lặng lẽ đón nhận tuổi già của mình cùng thiên nhiên?! Và nắng cuối chiều cũng là hình ảnh ẩn dụ cho tuổi của ông – cái tuổi không còn tinh anh nữa - Bằng cái nhìn trẻ thơ, trong veo, ăm ắp yêu thương của đứa cháu nhỏ, khổ thơ gợi hình ảnh người ông đã già thường góp nhặt niềm vui tuổi già vào mỗi buổi chiều nơi khu vườn nhỏ, hoà mình cùng thiên nhiên, cùng giọt nắng chiều nơi vườn nhà. Cuộc đời ông đã trải bao thăng trầm nhưng đến khi về già ông thanh thản, chẳng mấy bận tâm về chuyện đời, chuyện người. Tâm hồn ông giờ đây trong veo như giọt nắng thu nghiêng nghiêng mà ông gom lại cho tuổi già thêm niềm vui. - Dù thời gian đã hằn in trên cuộc đời của ông, trí nhớ ông không còn minh mẫn nữa nhưng tình yêu thương trong ông không bao giờ vơi cạn, ông vẫn luôn dành cho con cháu tất cả yêu thương “Ông không còn trí nhớ/ Ông chỉ còn tình yêu ”: bao yêu thương đong đầy ông dành cả cho đứa cháu nhỏ bên ông. - Khổ thơ gợi hình ảnh hai ông cháu một già một trẻ đang cùng cười vui, cùng nắm tay nhau đi dạo quanh khu vườn điều đó làm cho không gian thêm ấm áp, tình ông cháu thêm bền chặt. - Với con mắt quan sát tinh tế, tâm hồn nhạy cảm đứa cháu nhỏ cảm nhận về không gian mùa thu đã chạm ngõ Bé khẽ mang chiếc lá . Quẫy nhẹ mùa thu sang 11 - Sắc vàng của lá hoà trong màu nắng tinh khôi làm nên vệt vàng lung linh, cả không gian như tràn ngập sắc vàng. Một chiếc lá vàng rụng xuống thật khẽ, thật nhẹ làm xao động không gian, xao động cả lòng trẻ thơ - Đứa cháu nhỏ như hiểu ý ông “ khẽ mang chiếc lá/ đặt vào vệt nắng vàng” để rồi “ Ông nhặt lên chiếc nắng”, cả hai ông cháu cùng đón nhận mùa thu sang. Thu sang thật êm dịu, không gian thu đang chuyển mình để rồi “ Quẫy nhẹ” – âm thanh mùa thu, tiếng thu đang cựa quậy, chuyển mình, bước chuyển mùa cũng thật khẽ khàng và dịu êm. * Đánh giá: Bài thơ là giọt lòng của đứa cháu nhỏ dành cho người ông kính yêu của mình. Đó chính là giọt trong vắt của yêu thương. Chính phép màu của yêu thương đã thu niềm vui tuổi già của ông vào trong giọt nắng. Bởi yêu thương tạo ra mọi kì diệu cả trong cuộc đời và trong nghệ thuật. Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” là sự cất tiếng của yêu thương để bồi đắp cái gốc yêu thương cho con người! - Bài thơ lắng lại trong ta bao suy ngẫm: + Biết trân trọng, kính yêu người thân trong gia đình + Biết mở rộng tâm hồn để lắng nghe, cảm nhận những biến chuyển của thiên nhiên, đất trời. - Phải có tâm hồn tinh tế, yêu thiên nhiên tạo vật tha thiết nhà thơ mới có thể cảm nhận bước đi của thời gian, không gian thu tinh tế và chính xác đến vậy. LĐ 2: Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” của Nguyễn Thế Hoàng Linh nở hoa nơi từ ngữ. Ngôn ngữ giản dị - đó là ngôn ngữ ấu nhi thể hiện nét hồn nhiên, ngây thơ của trẻ nhỏ. Lối viết hồn hậu, chân thật như lời tâm sự, thủ thỉ kể chuyện . * Đánh giá, mở rộng: Nhận định “ thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” hoàn toàn đúng đắn bởi lẽ thơ ca bao giờ cũng phát khởi nơi tình cảm dạt dào của người nghệ sĩ và được thể hiện bằng ngôn từ chắt lọc, chau chuốt. Thơ là sự lên tiếng của trái tim, là rung động tâm hồn, là dòng cảm xúc chân thành, mãnh liệt từ đó nhà thơ bộc lộ cảm xúc của mình thông qua hệ thống ngôn từ giàu giá trị biểu cảm. Bài thơ “ Ra vườn nhặt nắng” của Nguyễn Thế Hoàng Linh là bài thơ “bắt rễ” từ tiếng lòng đứa cháu nhỏ yêu kính người ông của mình và thể hiện qua những ngôn từ trong sáng, gần gũi, giản dị, trong sáng – đó là ngôn ngữ ấu nhi rất đặc trưng của đồng dao.Vì lẽ đó, người nghệ sĩ phải có trái tim nhạy cảm, tinh tế, lao động nghiêm túc, tâm huyết với ngòi bút thì mới tạo nên những tác phẩm có giá trị sống mãi với thời gian. Còn bạn đọc cũng luôn khao khát được đón nhận những vần thơ tác tuyệt, được đồng sáng tạo cùng nhà thơ để thấu hiểu hơn bản thân, con người và cuộc đời. KB: Thơ ca là câu hát được vang lên và thăng hoa từ tận sâu nơi xúc cảm của người nghệ sĩ để rồi những tác phẩm được ra đời từ đó, thơ ca bắt rễ từ tiếng lòng 12 của người cầm bút và được nhà thơ tinh chắt ngôn ngữ để dệt nên cây đàn muôn điệu làm say đắm lòng người. “Ra vườn nhặt nắng” là bài thơ đã bắt rễ từ giọt lòng của Nguyễn Thế Hoàng Linh dành cho người ông đã già của mình và kết tinh từ tài nghệ thuật của nhà thơ. Bài thơ thực sự đã “Bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”. ---------------------------------------------------------- Đề 3: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi: Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Khi mặt trời khi như mặt trăng Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi Và chúng tôi thứ quả ngọt trên đời Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh ? (Nguyễn Khoa Điềm) Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? A. Tự do B. Tám chữ C. Bảy chữ D. Năm chữ Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ? A.Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Miêu tả Câu 3.Từ "quả" trong những câu thơ nào được dùng với ý nghĩa tả thực? A. Câu 1,2 B. Câu 2,3 B. Câu 1,3 D. Câu 1,2 Câu 4. Từ "quả" trong những câu thơ nào được dùng với ý nghĩa tượng trưng? A. Câu 9, 1 2 B. Câu 10,11 B. Câu 9,10 D. Câu 11,12 Câu 5. Nghĩa của “trông” ở dòng thơ Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng là gì? A. Sự trông chờ, niềm tin, hi vọng của mẹ vào những gì mà mẹ đã nhọc nhằn, lam lũ, chăm sóc, nâng niu. Các con chính là sự trông chờ của mẹ, thành công của các con chính là thứ “quả” mà mẹ mong chờ nhất. B. Sự mong mỏi của mẹ vào những đứa con yêu C. Mẹ mong hái được những quả ngon do tay mẹ vun trồng D. Các con chính là sự trông chờ của mẹ, thành công của các con chính là thứ “quả” mà mẹ mong chờ nhất. Câu 6. Trong hai dòng thơ “Những mùa quả lặn rồi lại mọc - Như mặt trời, khi như mặt trăng” tác giả đã sử dụng biện pháp tu A. Nhân hoá B. So sánh 13 C.Điệp ngữ và ẩn dụ D. Điệp ngữ và nhân hoá Câu 7: Đặc sắc nghệ thuật của hai dòng thơ: Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên - Còn những bí và bầu thì lớn xuống là gì? A. Sử dụng từ trái nghĩa. B. Sử dụng hình ảnh nhân hóa. C. Sử dụng thủ pháp miêu tả. D. Sử dụng phép tương phản, đối lập. Câu 7: Đặc sắc nghệ thuật của hai dòng thơ: Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên - Còn những bí và bầu thì lớn xuống là gì? A. Sử dụng từ trái nghĩa. B. Sử dụng hình ảnh nhân hóa. C. Sử dụng thủ pháp miêu tả. D. Sử dụng phép tương phản, đối lập. Câu 8. Tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ và ẩn dụ ở hai câu thơ: “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh ?” A. Tạo điểm nhấn về lòng biết ơn và sự ân hận như một thứ “tự kiểm” về sự chậm trễ thành đạt của người con chưa làm thỏa được niềm vui của mẹ. B. Tạo nhịp điệu êm ái cho câu thơ. C. Chỉ sự già nua và sự ra đi của mẹ. D. Chỉ sự dại dột hay chưa trưởng thành của người con. Câu 9. Nêu nội dung chính của bài thơ ?( trả lời trong khoảng 5-7 dòng Câu 10. Viết một đoạn văn ngắn ( 5 – 7 câu) nêu nội dung chính của em về hai câu thơ: “Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi” II. Phần viết Có ý kiến cho rằng “Đọc một câu thơ hay người ta không thấy câu thơ chỉ còn thấy tình người trong đó”. Hãy khám phá “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của mẹ” của Xuân Quỳnh? Lời ru ẩn nơi nào Giữa mênh mang trời đất Khi con vừa ra đời Lời ru về mẹ hát Lúc con nằm ấm áp Lời ru là tấm chăn Trong giấc ngủ êm đềm Lời ru thành giấc mộng Khi con vừa tỉnh giấc Thì lời ru đi chơi 14 Lời ru xuống ruộng khoai Ra bờ ao rau muống Và khi con đến lớp Lời ru ở cổng trường Lời ru thành ngọn cỏ Đón bước bàn chân con Mai rồi con lớn khôn Trên đường xa nắng gắt Lời ru là bóng mát Lúc con lên núi thẳm Lời ru cũng gập ghềnh Khi con ra biển rộng Lời ru thành mênh mông. ( Đề tương tự: “Đọc một câu thơ hay nghĩa là ta bắt gặp tâm hồn một con người” (Atona Phrăng xơ). Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua bài thơ “ Lời ru của mẹ ” của Xuân Quỳnh? Phần Câu Nội dung Điểm 1 Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. 0.5 2 Biểu cảm 0.5 3 Câu 1,3 0.5 4 Câu 9,12 0.5 Đọc 5 Sự trông chờ, niềm tin, hi vọng của mẹ vào những gì mà 0.5 hiểu mẹ đã nhọc nhằn, lam lũ để chăm sóc. Các con chính là sự trông chờ của mẹ, thành công của các con chính là thứ “quả” mà mẹ mong chờ nhất. 6 So sánh 0.5 7 Sử dụng phép tương phản, đối lập. 0.5 8 Tạo điểm nhấn về lòng biết ơn và sự ân hận như một thứ 0.5 “tự kiểm” về sự chậm trễ thành đạt của người con chưa thỏa được niềm vui của mẹ. 9 - Nội dung chính của bài thơ: Bằng sự trải nghiệm cuộc 1.0 sống, với một tâm hồn giàu duy tư trăn trở trước lẽ đời, Nguyễn Khoa Điềm đã thức nhận được mẹ là hiện thân của sự vun trồng bồi đắp để con là một thứ quả ngọt 15 ngào, giọt mồ hôi mẹ nhỏ xuống như suối nguồn bồi đắp để những mùa quả thêm ngọt thơm. Quả không còn là một thứ quả bình thường mà là “quả” của sự thành công, là kết quả của suối nguồn nuôi dưỡng. Những câu thơ trên không chỉ ngợi ca công lao to lớn của mẹ, của thế hệ đi trước với thế hệ sau này mà còn lay thức tâm hồn con người về ý thức trách nhiệm, sự đền đáp công ơn sinh thành của mỗi con người chúng ta với mẹ. 10 Có thể nói hai câu thơ “Chúng mang dáng giọt mồ hôi 1.0 mặn / Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi” những câu thơ tài hoa nhất trong bài, khắc sâu sự hy sinh thầm lặng của mẹ và lòng biết ơn vô bờ của người con về công dưỡng dục sinh thành của mẹ hiền. Hình ảnh “chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn” là kiểu hình ảnh so sánh, ví von dáng bầu bí như giọt mồ hôi mặn của mẹ. Đó là hình tượng giọt mồ hôi nhọc nhằn, kết tụ những vất vả hi sinh của mẹ. Câu thơ “Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi” gợi lên dáng vẻ âm thầm trong vất vả nhọc nhằn của mẹ để vun xới những mùa quả tốt tươi. Qua đó ta thấy được lòng biết ơn, kính trọng đối với đấng sinh thành của nhà thơ. * Yêu cầu về hình thức: Đảm bảo bố cục ba phần đầy đủ - Bài viết có bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt trôi chảy; văn phong trong sáng, có cảm xúc, biết lấy Phần tp văn học để chứng minh cho một nhận định lí luận văn Viết học. * Yêu cầu về nội dung : Đảm bảo được một số nội dung cơ bản sau: +) Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và trích dẫn nhận định. +) Thân bài: -Chứng minh: + Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm. - Luận điểm 1: “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) là tình mẹ bao la, dạt dào, đầy thương mến. ( Dẫn chứng và phân tích dẫn chứng) 16 Luận điểm 2: “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) còn được thể hiện qua hình thức nghệ thuật đặc sắc. ( Dẫn chứng và phân tích dẫn chứng) + Đánh giá, mở rộng và rút ra bài học cho người sáng tác và người tiếp nhận. +) Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận. Bài tham khảo MB: Có ý kiến cho rằng “Đọc một câu thơ hay nghĩa là ta bắt gặp tâm hồn một con người”. Thật vậy, thơ là thế giới tâm hồn,tình cảm, cảm xúc của con người, là nơi kí thác những tâm tư tình cảm mà người nghệ sĩ mang trong lòng. Bởi vậy, thật đúng đắn khi Atona Phăngxơ nhận định “ Đọc một câu thơ hay người ta không thấy câu thơ chỉ còn thấy tình người trong đó”. Đến với bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) ta sẽ thấy “ tình người” - tình yêu thương vô bờ của mẹ dành cho con yêu qua lời ru ngọt ngào, tha thiết. TB: *Giải thích: Nhận định của Atona Phrăng xơ đã bàn về đặc trưng của thơ ca. ( Hoặc: Nhận định của Atona Phrăng xơ đã bàn về vai trò của tình cảm, cảm xúc trong thơ) Thơ là tiếng nói trữ tình, tiếng nói của trái tim mang tính cá thể sáng tạo của chủ thể trữ tình. Thơ là cuộc đời cũng là trái tim. Tình cảm trong thơ là một trong những yếu tố quan trọng đem đến sức rung động của thi ca. "Thơ muốn làm cho người ta khóc trước hết mình phải khóc. Thơ muốn làm cho người ta cười trước hết mình phải cười." bởi vậy để có được một câu thơ hay, để truyền tải được sợi dây tình cảm người nghệ sĩ mang trong lòng, câu thơ phải xuất phát từ cái tâm và cái tài của người cầm bút. .“Đọc ” là quá trình tiếp nhận, tìm hiểu, suy ngẫm thi phẩm, là đồng sáng tạo để cảm thấu những cảm xúc, vui buồn, yêu thương cùng nhà thơ. “Câu thơ hay” là câu thơ có giá trị về cả nội dung và hình thức, hình thức biểu hiện đồng nhất với nội dung, tình cảm của thơ làm rung động trái tim người đọc. Khi “đọc một câu thơ hay”, chúng ta không chỉ thấy câu thơ mà còn phát hiện, gặp gỡ, đồng cảm với những suy nghĩ,tư tưởng, tình cảm và cảm xúc của người nghệ sĩ. Câu thơ, bài thơ bao giờ cũng biểu đạt tư tưởng, tình cảm của nhà thơ, cảm xúc càng mãnh liệt, sâu sắc, càng thăng hoa thì càng lay động và ám ảnh trái tim bạn đọc. Đọc bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) ta gặp gỡ tình yêu thương của mẹ qua lời ru ngọt ngào, sâu lắng. Chứng minh: - Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm: Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ được nhiều bạn trẻ yêu thích. Thơ Xuân Quỳnh thường viết về những tình cảm gần gũi, bình dị trong đời sống gia đình và cuộc sống thường ngày, như tình mẹ con, bà cháu, tình yêu, tình quê hương, đất nước, biểu lộ những 17 rung cảm và khát khao của một trái tim phụ nữ chân thành, tha thiết và đằm thắm. Bài thơ “ Lời ru của mẹ” là bài thơ nằm trong mạch nguồn nhũng bài thơ viết về tình cảm gần gũi,yêu thương ấy. - Luận điểm 1: “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) là tình mẹ bao la, dạt dào, đầy thương mến. Có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của mẹ? Có lời ru nào ngọt ngào, tha thiết hơn lời mẹ ru con?.... Nghe lời ru ầu ơ của mẹ trong bài thơ ta được trở về sống lại tuổi thơ như trong truyện cổ tích thần kỳ, giàu biến hóa, tất cả khởi nguồn từ tình thương yêu bao la của mẹ. Lời ru của mẹ theo con trên khắp hành trình dài rộng của cuộc đời, từ khi con vừa ra đời lời ru đã ẩn giữa đất trời bay về trú ngụ. Lời ru thật diệu kỳ, như có phép thần tiên, điều đó đã được nhà thơ triển khai trong suốt toàn bộ thi phẩm. + Lời ru yêu thương gắn với tuổi hồng, tuổi nụ. Tuổi càng thơ dại , lời ru càng tha thiết, mê say. + Lời ru còn biết “đi chơi” khi con thức giấc, thậm chí biết xuống ruộng khoai hay “ra bờ ao rau muống” lúc mẹ làm việc. => Qua lời ru hình ảnh người mẹ lam lũ, khó nhọc sau lũy tre xanh. Nhờ đó, người mẹ hiện lên vừa giàu lòng yêu thương, nhân hậu, vừa mang vẻ đẹp chất phác của người lao động + Không những bên con trong giấc ngủ say nồng, lời ru còn bên con khi con đùa vui, chạy nhảy, lời ru của mẹ còn theo con đến lớp mỗi ngày. Buổi con tan học về, có mẹ đón đưa, lúc ấy lời ru cũng ngân nga qua từng lời nói yêu thương, từng cử chỉ dịu dàng. Lời ru hóa thành vòng tay, thành ngọn cỏ đón bước chân con lon ton sau giờ tan học + Con lớn khôn, lời ru của mẹ vẫn không xa vắng, vẫn ở bên con chia sẻ ngọt bùi. Lời ru hóa thành bóng râm dịu mát trên đường xa nắng gắt lúc con qua. Lời ru cũng đồng hành cùng con lúc gập ghềnh dâu bể. Lời ru hóa thành mênh mông khi con được hiển vinh, vươn ra biển lớn với người đời. * Lời ru của mẹ thật diệu kỳ, nhân hậu biết bao, yêu thương đong đầy, lời ru ngọt ngào từ tấm lòng người mẹ vẫn theo mãi trọn đời con, từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, dù phải qua bao khó khăn, ghềnh thác. Từ suối nguồn yêu thương của mẹ qua lời hát ru ầu ơ, ngọt ngào của mẹ con khôn lớn và trưởng thành, từ đó con biết trân quý tình mẹ, biết ơn, kính yêu mẹ! Luận điểm 2: “ Tình người” trong bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) còn được thể hiện qua hình thức nghệ thuật đặc sắc. Viết về đề tài muôn thuở trong tình cảm con người nhưng những lời thơ của Xuân Quỳnh vẫn luôn tươi mới, ngọt ngào. Lời thơ tự nhiên, cảm xúc thơ chân thành, đặc biệt nữ sĩ Xuân Quỳnh đã tạo được tứ thơ đặc sắc nên thi phẩm đằm sâu nơi trái tim người đọc * Đánh giá, mở rộng: 18 Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn,bởi lẽ thơ là thế giới tâm hồn, tình cảm của con người, là những cảm xúc, rung động, những suy tư, trăn trở về cuộc đời của người cầm bút có như vậy, thơ mới lay động và neo đậu trong lòng người. Thơ hay là thơ lay động tâm hồn con người bằng cảm xúc, tình cảm. Song để có thơ hay, nhà thơ bên cạnh sự sâu sắc của tình cảm, sự phong phú của cảm xúc cần nghiêm túc, nhiệt huyết trong lao động nghệ thuật. Với người đọc thơ, đến với bài thơ là để trải nghiệm một tâm trạng, một cảm xúc và kiếm tìm sự tri âm. Do vậy, khi tìm đến một tác phẩm thơ, người đọc quan tâm nhiều tới cảm xúc, tới tình cảm mà nhà thơ kí thác. Bài thơ “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) đã mang đến cho người đọc tình mẫu tử thiêng liêng, cao đẹp, khơi dậy trong lòng bạn đọc những tình cảm cao đẹp với gia đình, quê hương, đất nước. Bài thơ đã đi vào lòng người bởi tình cảm ấm nồng, tình yêu thương con vô bờ của mẹ. KB: Đọc thơ, là đọc “ Cái mạch ngầm văn bản phía sau”, đằng sau những con chữ, bạn đọc cảm thấu tâm tư, nỗi lòng, tư tưởng, tình cảm của nhà thơ, cùng đồng điệu với tiếng lòng nhà thơ. Niềm vui của người đọc thơ là bắt gặp tâm tình, tâm hồn nhà thơ để từ đó thăng hoa trong cảm xúc. Khi đọc “ Lời ru của mẹ” ( Xuân Quỳnh) bạn đọc “ không chỉ thấy câu thơ mà còn thấy tình người trong đó”, thấy được, cảm được “tình mẹ bao la như biển Thái Bình” trong từng lời thơ, câu thơ. ----------------------------------------- Đề 4. Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi: Nắng Ba Đình mùa thu Thắm vàng trên lăng Bác Vẫn trong vắt bầu trời Ngày tuyên ngôn Độc lập. Ta đi trên quảng trường Bâng khuâng như vẫn thấy Nắng reo trên lễ đài Có bàn tay Bác vẫy. Ấm lòng ta biết mấy Ánh mắt Bác nheo cười Lồng lộng một vòm trời Sau mái đầu của Bác... (Nắng Ba Đình – Nguyễn Phan Hách) Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? A. Tự do B. Tám chữ C. Ngũ ngôn D. Bảy chữ Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ? A.Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Miêu tả Câu 3: Đoạn thơ trên gợi nhớ đến sự kiện lịch sử nào của nước ta? 19 A. Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2.9.1945 B. Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 3.9.1945 C. Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước ngày 5.6. 1911 D. Bác Hồ trở về sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Câu 4. Từ “ bâng khuâng” thuộc loại từ gì? A. Từ ghép B. Từ láy C. Từ ghép chính phụ C. Từ láy bộ phận Câu 5. Từ “ vẫn” trong câu thơ “ Vẫn trong vắt bầu trời” thuộc từ loại nào? A. Danh từ B. Tính từ C. Động từ D. Phó từ Câu 6. Từ “ thắm vàng” trong câu thơ “ thắm vàng trên lăng Bác” có ý nghĩa gì? A.Sự tươi tắn, sáng trong của nắng trời, cả ánh nắng huy hoàng từ sao vàng cờ đỏ, có cả ánh sáng kiêu hãnh tự hào của tấm lòng một công dân độc lập, lòng biết ơn sâu nặng của một người con đối với Bác Hồ. B.Sự tươi tắn, sáng trong của nắng trời. C.Sự tươi tắn, sáng trong của nắng trời, cả ánh nắng huy hoàng từ sao vàng cờ đỏ rực rỡ tung bay trong gió. D.Sự tươi tắn, sáng trong của nắng trời, cả ánh nắng huy hoàng từ sao vàng cờ đỏ, có cả ánh sáng kiêu hãnh tự hào của tấm lòng một công dân độc lập. Câu 7. Câu thơ “ Nắng Ba Đình mùa thu” sử dụng biện pháp tu từ nào? A. So sánh. B. Nhân hoá C. Ẩn dụ. D. Điệp ngữ. Câu 8. Nội dung chính của bài thơ là gì? A. Bài thơ với lời lẽ nhẹ nhàng, da diết bộc lộ niềm biết ơn, công lao to lớn của Bác Hồ kính yêu. Lòng tự hào vào thời khắc đất nước được độc lập. B. Bài thơ với lời lẽ nhẹ nhàng, da diết bộc lộ niềm biết ơn, công lao to lớn của Bác Hồ kính yêu. C. Bài thơ thể hiện lòng tự hào vào thời khắc đất nước được độc lập. D. Niềm vui của toàn dân khi nước nhà được độc lập Câu 9: Hãy chỉ ra biện pháp tu từ và cho biết hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ: Ta đi trên quảng trường Bâng khuâng như vẫn thấy Nắng reo trên lễ đài Có bàn tay Bác vẫy. Câu 10: Trình bày cảm xúc của mình về sự kiện trọng đại được nhắc đến trong đoạn thơ trên bằng một đoạn văn khoảng 5 -7 dòng. II. Phần viết Đôi bàn tay mẹ? Phần Câu Nội dung Điểm 20
Tài liệu đính kèm: