CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN CẤP THCS THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH I/ ĐẶT VẤN ĐỀ : - Việc đổi mới PPDH và kiểm tra ở các bộ môn nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai trong toàn ngành nhiều năm nay đã thực sự tạo ra những chuyển biến khá tích cực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động dạy và ở các nhà trường. - Đổi mới PPDH trong dạy học môn ngữ văn là hết sức cần thiết và cấp bách. Nhưng đổi mới PPDH không có nghĩa là người GV phải từ bỏ đi PPDH truyền thống, hoặc độc tôn một phương pháp nào đó. Đổi mới PPDH chính là vận dụng các PPDH đó một cách phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ, nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập ngữ văn ở tất cả các đối tượng. - Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học. Đổi mới chương trình đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ các khâu trong đó có đổi mới đánh giá. Kiểm tra là hình thức và phương tiện của hoạt động đánh giá, bởi vậy trong quá trình đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh trước tiên cần phải đổi mới việc kiểm tra. - Hiện nay cùng với đổi mới phương pháp dạy học theo từng đối tượng học sinh thì một vấn đề nữa cần phải quan tâm đó là đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá theo năng lực của học sinh. Nếu giáo viên kiểm tra, đánh giá đúng thì người giáo viên mới nhận biết đúng được năng lực thực sự của học sinh, giúp các em phát huy mặt ưu điêm đồng thời nhận ra những hạn chế của mình và có phương pháp sửa chữa đúng đắn, từ đó học tập sẽ đạt kết quả cao hơn. II/ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PPDH VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH: 1/ Những thuận lợi 1.1. CBGV đã được tập huấn khá kỹ lưỡng về đổi mới PPDH và KTĐG trước khi thực hiện. 1.2. Các tài liệu hướng dẫn, các tài liệu mẫu được trang bị tương đối đầy đủ. 1.3. Chỉ đạo của BGH, chuyên môn nhà trường luôn sát sao và chặt chẽ về công tác đổi mới PPDH, thường xuyên tổ chức dự giờ, góp ý, xây dựng giờ dạy chuẩn để GV học tập rút kinh nghiệm. Đặc biệt trong KTĐG, đã phân cấp việc quản lý đề kiểm tra đến từng cá nhân, bộ phận để đảm bảo đề ra đủ độ chuẩn: đề kiểm tra miệng thường xuyên, giữa kì GVBM ra và tự chịu trách nhiệm do chuyên môn quản lý và chịu trách nhiệm, đề kiểm tra học kì do Phòng và Sở GD ra. 1.4. GVBM nhà trường đa số tiếp cận nhanh về PPDH, hình thức dạy học tích cực, cũng như cách thức mới trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. 2/ Những khó khăn 2.1. Về đổi mới PPDH 2.1.1. Cơ sở vật chất (phòng học, bàn nghế ) chưa phù hợp cho việc áp dụng một số hình thức học tập tích cực như: hoạt động thảo luận nhóm. 2.1.2. Một số học sinh trên địa bàn nhà trường thuộc hoàn cảnh nghèo, khó khăn phải phụ giúp gia đình nên thời gian dành cho việc học tập ít dẫn đến độ tiếp nhận trong học tập còn chậm. Từ học tập thụ động chuyển sang tiếp cận với phương pháp và hình thức học tập tích cực, chủ động còn nhiều hạn chế, bỡ ngỡ, vướng mắc. Các em không quen hình thức học tập hợp tác, tư duy suy luận, phân tích, liên tưởng còn chậm, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu yếu. Đó là một tác nhân hạn chế sự đổi mới của GV. 2.1.3. Một số GV do hạn chế về năng lực nên còn chậm đổi mới, hoặc hiểu chưa thật đúng bản chất của PPDH tích cực, nên khi đi vào vận dụng trong dạy học còn nhiều lúng túng,máy móc, mang tính hình thức, hiệu quả thấp. Ví như: Cứ cho là tổ chức dạy học nhóm, cho HS làm phiếu học tập mới là vận dụng phương pháp mới. Vì vậy sa vào thực hiện tuỳ tiện, hình thức và khô cứng. 2.2/ Về đổi mới kiểm tra, đánh giá 2.2.1. Một số giáo viên bộ môn do hạn chế về năng lực nên: - Việc xác định các mức độ về kiến thức, kỹ năng trong khâu lập ma trận còn nhiều lúng túng. - Kỹ thuật xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chưa thành thạo. - Ngại sử dụng đề trắc nghiệm vì: khó soạn, đề quá dài cơ sở vật chất không đáp ứng được kiểu ra đề này. 2.2.2. Giai đoạn những năm đầu thực hiện đổi mới, phương tiện, thiết bị để in ấn(máy vi tính, máy in, pho to) đề kiểm tra dạng trắc nghiệm khách quan ở nhà trường chưa có nên giáo viên gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong khâu chuẩn bị đề kiểm tra. 2.2.3. Ra đề kiểm tra theo hướng đổi mới đòi hỏi GVBM phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, trí tuệ trong khi thời gian làm việc 2 buổi/ ngày của giáo viên đã tác động không nhỏ đến chất lượng của đề. 2.2.4. Ở địa bàn nhà trường, đối tượng con em nhà nghèo chiếm trên khá đông tổng số học sinh, do đó việc huy động kinh phí để làm đề kiểm tra trắc nghiệm trên giấy in sẵn cũng gặp không ít những khó khăn. III/ NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PPDH VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁTHEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH: Nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa và đặc biệt là bản chất việc đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá trong giảng dạy bộ môn Ngữ Văn, BGH nhà trường đã chỉ đạo các giáo viên Ngữ Văn trong quá trình dạy học tập trung vào thực hiện theo các định hướng sau: A/ VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Nhà trường đã tổ chức chỉ đạo GVBM Ngữ Văn thực hiện: 1. Vận dụng các PPDH theo hướng phát huy các yếu tố tích cực và những ưu điểm của các PPDH truyền thống và các PPDH hiện đại nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong học tập, từ đó GV tạo điều kiện tối ưu để học sinh suy nghĩ, tìm tòi nhiều hơn, thực hành, nói, đọc, viết nhiều hơn. 2. Chú trọng vận dụng triệt để và hiệu quả các PPDH đặc thù của bộ môn như: - PPDH Văn: PP đọc sáng tạo; PP dùng lời có nghệ thuật; PP vấn đáp gợi tìm. - PPDH Tiếng Việt và tập làm văn: PP giao tiếp; PP rèn luyện theo mẫu; PP phân tích ngôn ngữ. 3. Hướng dẫn học sinh rèn luyện phương pháp tự học và tính tích cực học tập môn Ngữ Văn: giúp HS biết sử dụng SGK, SBT và các tư liệu tham khảo một cách có ý thức và hiệu quả 4. Vận dụng các hình thức tổ chức học tập kết hợp giữa học tập cá nhân với học tập hợp tác; giữa hình thức học cá nhân với hình thức dạy theo nhóm tạo dựng không khí học tập thích hợp để HS có thể tranh luận với nhau, với GV và tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, của bạn. 5. Tăng cường sử dụng ĐDDH theo phương châm thiết thực nhất như: Bảng phụ, tranh ảnh, phiếu học tập .chống trình trạng dạy chay, đọc chép. 6. Không áp đặt, gò bó giờ học theo qui trình cứng nhắc. Cho phép GVBM chủ động, sáng tạo trong thiết kế giờ dạy học trên cơ sở căn cứ vào mục tiêu cụ thể của bài học. Cho phép GVBM chủ động về thời lượng mỗi tiết bài trên cơ sở thời lượng của từng tuần miến sao phải đảm bảo mục tiêu bài học. 7. Tăng cường cải tiến kiểm tra, đánh giá bằng nhiều hình thức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng (như trình bày ở phần B), coi đó là một biện pháp để kích thích học tập môn Ngữ Văn. B/ VỀ ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ 1. Nguyên tắc kiểm tra, đánh giá: - Bám sát mục tiêu, chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học. - Căn cứ trên những đổi mới về nội dung chương trình và sách giáo khoa. - Coi trọng tính toàn diện về các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ. - Dựa trên quan điểm tích cực hóa hoạt động của học sinh. - Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá ( kiểm tra miệng, kiểm tra viết, kiểm tra đầu giờ, giữa giờ, cuối giờ) - Đề kiểm tra phải đảm bảo sự phân hóa để đánh giá đúng thực chất trình độ của học sinh trong lớp. 2. Giáo viên phải xây dựng được ma trận trước khi xây dựng hệ thống câu hỏi đối với đề kiểm tra định kì, kiểm tra học kì. 3. Các hình thức kiểm tra, đánh giá: 3.1. Kiểm tra, đánh giá thường xuyên (kiểm tra miệng-15 phút) - Để đạt hiệu quả cao hơn giáo viên có thể yêu cầu học sinh sử dụng kiến thức cũ để tham gia vào việc xây dựng bài mới. Không nhất thiết chỉ kiểm tra trong 5-10 phút đầu giờ mà giáo viên nên sử dụng ở mọi thời điểm trong tiết học cho mọi đối tượng học sinh với nhiều yêu cầu và mục đích khác nhau. Trong khi kiểm tra giáo viên thể hỏi kiến thức cũ hoặc những kiến thức có liên quan đến bài mới đang học. Kiểm tra thường xuyên giáo viên phải xác định rõ nội dung yêu cầu, mục đích hỏi, xác định rõ từng đối tượng học sinh cần nhắm đến của mỗi câu hỏi. Chẳng hạn đối với đối tượng học sinh trung bình, yếu chủ yếu dùng câu hỏi tái hiện, nhắc lại kiến thức; còn đối với học sinh khá-giỏi thì dùng câu hỏi thông hiểu, vận dụng. Để kiểm tra ngoài việc tận dụng các câu hỏi trong sách giáo khoa giáo viên có thể xây dựng các câu hỏi khác cho phù hợp. - Các hình thức kiểm tra cụ thể như sau: + Đặt câu hỏi ngay trong nội dung bài học để kiểm tra việc học bài của học sinh và đưa bài tập cho học sinh áp dụng để kiểm tra việc hiểu bài của các em (đối với phân môn Tiếng việt). Ví dụ: Trợ từ là gì? Hai từ in đậm trong 2 câu sau đây, từ nào là trợ từ? Vì sao? a, Chính thầy hiệu trưởng đã tặng tôi cuốn sách này. b.Chị Dậu là nhân vật chính trong văn bản”Tức nước vỡ bờ”của Ngô Tất Tố. + Đặt một số câu hỏi phụ liên quan đến nội dung, nghệ thuật bài học để kiểm tra việc hiểu bài của học sinh (đối với phân môn văn bản) Ví dụ: Qua văn bản “Tức nước vỡ bờ” của nhà văn Ngô Tất Tố, em hiểu gì về số phận của người nông dân trong xã hội lúc bấy giờ? Nghệ thuật đặc sắc trong đoạn trích này là gì? 3.2. Kiểm tra, đánh giá định kì: là kiểm tra theo phân phối chương trình bao gồm kiểm tra 1 tiết trở lên và kiểm tra học kì. - Các bài kiểm tra, đánh giá cần phải được tập trung vào những nội dung đã học và hướng đến những mục tiêu cụ thể của từng bài học đã đặt ra. - Giáo viên cần nhìn nhận được việc kiểm tra không chỉ để đánh giá kết quả học tập của học sinh mà còn là khâu mật thiết thúc đẩy học sinh học tập, là một bộ phận của quá trình học tập. Do vậy các bài kiểm tra cần cung cấp những phản hồi hữu ích cho việc giảng dạy của giáo viên cũng như sự tiến bộ của học sinh. 4. Quy trình xây dựng đề kiểm tra: a. Mục tiêu: Giáo viên phải đề ra được mục tiêu của bài kiểm tra, qua bài kiểm tra giúp học sinh ôn lại được tất cả những kiến thức đã học và hệ thống lại các nội dung bài đã học. b. Chuẩn bị: Ra đề là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong công tác kiểm tra, đánh giá. Giáo viên phải chuẩn bị kĩ và chu đáo nội dung đề kiểm tra, đề kiểm tra phải đạt được mục tiêu đề ra, phải phân hóa đối tượng học sinh, do đó giáo viên phải lựa chọn nội dung kiến thức quan trọng, cần thiết để đưa vào bài kiểm tra sao cho học sinh khá giỏi và học sinh trung bình, yếu đều làm được kết quả phù hợp. c. Ma trận, đáp án: Giáo viên phải xây dựng được ma trận đề kiểm tra, ma trận phải thể hiện rõ ràng, đầy đủ nội dung cần kiểm tra, nội dung ở từng mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng thấp, cao và số câu, số điểm cụ thể từng phần. Đáp án phải có thang điểm cụ thể cho từng câu, từng ý. 5. Khâu chấm, trả bài kiểm tra: Chấm bài giáo viên phải bám sát thang điểm để đánh giá đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công bằng. Tuy nhiên, trong quá trình chấm, giáo viên phát hiện điểm mới, sáng tạo của học sinh để có thể linh hoạt cho điểm. Đặc biệt trong mỗi bài kiểm tra giáo viên phải ghi rõ lời phê, chỉ ra cụ thể những chỗ sai sót của học sinh để các em tự sửa chữa, khắc phục. Đồng thời, khi trả bài kiểm tra, giáo viên hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình, của bạn thông qua một số bài cụ thể. Ví dụ : Soạn một bài kiểm tra giữa học kì I trong chương trình Ngữ Văn 8. MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I MÔN NGỮ VĂN, LỚP 8 I. Mục tiêu: 1. Kiến thức: Nắm được kiến thức cơ bản về những văn bản đọc hiểu, tiếng Việt và tạo lập văn bản ở giữa học kì I. 2. Kĩ năng: Qua bài kiểm tra : Đánh giá được trình độ của mình về các mặt kiến thức và năng lực diễn đạt . 3. Thái độ: Có thái độ trung thực trong thi cử. 4. Hình thành năng lực phẩm chất: Hs có năng lực thực hành nhận xét đánh giá một vấn đề trong văn bản và những kiến thức có lên quan ở phần tiếng Việt và tạo lập văn bản. II. Chuẩn bị: - Thầy soạn bài lên lớp,ra đề phù hợp (thang điểm 4/6) - Trò ôn bài cũ ( nội dung sgk) III.Thiết kế ma trận: Mức độ Vận dụng Tổng Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Chủ đề cao cộng - Nhớ tên tác - Hiểu được nội dung 1. Đọc-hiểu phẩm, tác giả chính của đoạn trích. - Nhận biết được - Hiểu các phương các từ thuộc thức biểu đạt và tác trường từ vựng. dụng của việc phối hợp các phương thức biểu đạt. 2 2 4 Số câu: Số điểm: 2,0 2,0 4,0 Tỉ lệ: 20% 20% 40% Viết bài văn tự sự 2. Tập làm kết hợp văn miêu tả và biểu cảm 1 1 Số câu: Số điểm: 6,0 6,0 Tỉ lệ: 60% 60% 2 2 1 5 Tổng số 2,0 2,0 6,0 10,0 20% 20% 60% 100% ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I MÔN NGỮ VĂN, LỚP 8 I. ĐỌC – HIỂU: (4,0 điểm) Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: “ Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc ? Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường”. (Ngữ văn 8, tập một) Câu 1: Đoạn văn trên được trích trong văn bản nào? Tác giả là ai? (1,0 điểm) Câu 2: Nêu nội dung chính của đoạn văn ? (1,0 điểm) Câu 3: Tìm các từ thuộc trường từ vựng chỉ “các bộ phận của cơ thể con người” có trong đoạn văn trên?. (1,0 điểm) Câu 4: Trong đoạn văn trên, tác giả đã sử dụng phối kết hợp các phương thức biểu đạt nào ? Cho biết tác dụng của chúng? (1,0 điểm) II. TẬP LÀM VĂN: (6,0 điểm): Kể về một việc em đã làm khiến bố mẹ rất vui lòng. ĐÁP ÁN I. ĐỌC- HIỂU: (4,0 điểm) Câu 1: (1,0 điểm) - Mức đạt tối đa: (1,0 điểm) + Đoạn văn trên trích từ văn bản “Trong lòng mẹ” (Trích “Những ngày thơ ấu”). + Tác giả: Nguyên Hồng. - Mức chưa đạt tối đa: (0,5 điểm) + HS đạt 1/2 yêu cầu trên. - Mức không đạt: (0 điểm) + HS trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 2: (1,0 điểm) - Mức đạt tối đa: (1,0 điểm) + Nội dung chính: Cảm giác sướng cực điểm của bé Hồng khi gặp lại mẹ. - Mức chưa đạt tối đa: (0,5 điểm) + HS đạt 1/2 yêu cầu trên. - Mức không đạt: (0 điểm) + HS trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 3: (1,0 điểm) - Mức đạt tối đa: (1,0 điểm) Các từ thuộc trường từ vựng chỉ “các bộ phận của cơ thể con người”: mặt, mắt, da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, miệng - Mức chưa đạt tối đa: (0,5 điểm) + HS đạt 1/2 yêu cầu trên. - Mức không đạt: (0 điểm) + HS trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 4: (1,0 điểm) - Mức đạt tối đa: (1,0 điểm) + Trong đoạn văn trên, tác giả đã sử dụng phối kết hợp các phương thức biểu đạt: Tự sư + miêu tả + biểu cảm. + Tác dụng: Góp phần làm cho đoạn văn kể chuyện thêm sinh động, sâu sắc, giàu cảm xúc. - Mức chưa đạt tối đa: (0,5 điểm) + HS đạt 1/2 yêu cầu trên. - Mức không đạt: (0 điểm) + HS trả lời sai hoặc không trả lời. II. TẬP LÀM VĂN: (6,0 điểm) - Tiêu chí về nội dung phần bài viết : (5.0 điểm) 1. Mở bài : (1,0 điểm) Giới thiệu về việc em đã làm khiến bố mẹ rất vui lòng. - Mức đạt tối đa: (1,0 điểm) + Biết dẫn dắt, giới thiệu chung về sự việc hay, tạo ấn tượng, có tính sáng tạo. - Mức chưa đạt tối đa: (0,5 điểm) + Biết dẫn dắt, giới thiệu chung về sự việc nhưng chưa hay, chưa có tính sáng tạo. - Mức không đạt: (0 điểm) + Lạc đề, mở bài không đạt yêu cầu, sai cơ bản về kiến thức hoặc không có mở bài. 2. Thân bài: (3,0 điểm) - Mức đạt tối đa: (3,0 điểm ) + Hoàn cảnh xảy ra sự việc. + Kể lại diễn biến sự việc theo một trình tự thời gian, không gian nhất định. Có sự việc khởi đầu, sự việc cao trào, đỉnh điểm, kết thúc. ( Chú ý kết hợp yếu tố miêu tả, biểu cảm) + Thái độ của bố mẹ qua việc làm của em. + Suy nghĩ của bản thân về việc làm tốt. - Mức chưa đạt tối đa: (0,điểm) + HS nêu được ½ các ý trên nhưng còn sơ sài . - Mức không đạt: (0 điểm). + Lạc đề/sai cơ bản về các kiến thức hoặc không đề cập đến các ý trên. 3. Kết bài: (1,0 điểm) - Mức đạt tối đa (1,0 điểm). + Cảm nhận chung về việc làm của bản thân. + Liên hệ nêu mong ước, hứa hẹn. - Mức chưa đạt tối đa: (0, 5 –0, 25 điểm): + HS nêu được ½ các ý trên nhưng còn sơ sài - Mức không đạt: (0 điểm) + Kết bài sai kiến thức hoặc không có kết bài. *Các tiêu chí khác (1,0 điểm) 1. Hình thức: (0,5 điểm) - Mức đạt tối đa: + Viết bài văn đủ bố cục 3 phần, các ý sắp xếp hợp lí, diễn đạt mạch lạc, chữ viết rõ ràng. - Mức không đạt: ( 0 điểm) + Không hoàn chỉnh bài viết, sai lỗi dùng từ, diễn đạt, không đảm bảo lỗi chính tả, chữ viết xấu. 2. Sáng tạo: (0,5 điểm) - Mức đạt tối đa: (0,5 điểm) + Có sự tìm tòi trong diễn đạt, dùng đa dạng các kiểu câu, sử dụng từ ngữ chọn lọc. - Mức không đạt: (0 điểm) + Giáo viên không nhận ra được yêu cầu thể hiện trong bài , học sinh không làm bài. * Lưu ý : Điểm toàn bài là điểm các câu cộng lại được làm tròn đến một chữ số thập phân. 3. Biện pháp thực hiện: - Tăng cường trao đổi việc đổi mới kiểm tra, đánh giá trong các buổi họp tổ chuyên môn, bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học. - Tích cực học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường. - Đầu tư cho công tác ra đề, nội dung kiểm tra cần bao quát kiến thức môn học, đa dạng các nội dung kiểm tra, tránh sử dụng các đề bài cho nhiều năm học sẽ không đánh giá chính xác đúng năng lực của học sinh. - Giáo viên phải thực có tâm huyết trong công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá. - Rèn cho học sinh phương pháp học và tự học, kĩ năng làm bài kiểm tra. V/ KẾT LUẬN : Tóm lại, kiểm tra, đánh giá là quá trình tập trung và phát triển năng lực của người học, là một phần không thể thiếu được của quá trình dạy học nhằm giúp học sinh tiến bộ. Vì vậy khi đánh giá cần đảm bảo đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng loại hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục. Việc kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với đặc thù bộ môn, phù hợp với lứa tuổi, tâm sinh lí học sinh. Đó là quá trình không chỉ kiểm tra kiến thức đã học mà còn chú trọng kiểm tra kĩ năng, thái độ của học sinh. Kiểm tra đúng là việc quan trọng dẫn đến đánh giá đúng năng lực nhận thức thực sự của học sinh, để giáo viên điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục. Phong Thạnh A, Ngày 27 tháng 11 năm 2022 Người thực hiện Kim Thị Xuân
Tài liệu đính kèm: