Tuần: 1 Ngày soạn: 15-8-2020 Tiết : 1 Chuyên đề: CẢM THỤ VĂN HỌC I. MỤC TIÊU : 1/ Kiến thức: - Nhận biết một số đặc điểm cơ bản của các thể loại thơ, văn xuôi. - Bồi dưỡng năng lực đọc – hiểu văn bản nghệ thuật. 2/ Kĩ năng: - Nâng cao kĩ năng phân tích vai trò và tác dụng của một số biện pháp tu từ Tiếng Việt khi cảm thụ tác phẩm văn học. - Vận dụng kĩ năng viết bài văn cảm thụ thơ, văn. 3/ Thái độ: - Biết yêu quí, trân trọng các thành tựu của văn học, có ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt. - Biết yêu quí những giá trị chân, thiện, mĩ và có thái độ khinh ghét những cái xấu, ác thông qua những tác phẩm văn học được cảm thụ. II. CHUẨN BỊ : - Thầy : giáo án, đọc tư liệu tham khảo, tìm bài tập nâng cao. - Trò : Đoc kỹ tư liệu, chuẩn bị theo hướng dẫn của giáo viên. III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP : 1. Ổn định lớp : Sĩ số: 2. Kiểm tra bài cũ : 3.Nội dung bài mới : Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung cơ bản Hoạt động 1: Tìm hiểu I/ Ôn tập các bước làm bài cảm khái niệm cảm thụ văn thụ văn học. học: 1- Cảm thụ văn học là gì? Giáo viên hướng dẫn HS - “Cảm thụ văn học là một quá tìm hiểu khái niệm cảm (Phương pháp dạy trình tiếp nhận, hiểu, cảm được thụ văn học. học tiếng Việt ở tiểu văn chương, tính hình tượng của học, NXB Đại học văn chương, đặc trưng ngôn ngữ (Đọc tham khảo bài văn ở quốc gia Hà Nội- nghệ thuật, đặc trưng phản ánh phụ lục) 1999) nghệ thuật của văn chương.” - Cảm thụ văn học là sự cảm nhận Như vậy, cảm thụ văn học những giá trị nổi bật, những điều có nghĩa là khi đọc (nghe) một (Luyện tập về cảm sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn câu chuyện, một bài thơ ta thụ văn học- NXB học thể hiện trong tác phẩm (bài không những hiểu mà còn phải GD- 2003) thơ, văn..) hay một bộ phận của tác xúc cảm, tưởng tượng và thật phẩm (đoạn văn, thơ.. thậm chí sự gần gũi, “nhập thân” với một từ ngữ có giá trị trong câu những gì đã đọc văn, câu thơ). Để có được năng lực cảm thụ văn học sâu sắc và tinh tế, cần có sư say mê, hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn; chịu khó tích lũy vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học; nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt phục vụ cho cảm thụ văn 2. Cách viết một đoạn bài cảm học. thụ văn học: a. Đọc kỹ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tập (phải trả lời được điều gì? Cần nêu bật được ý gì? ) (Dựa vào yêu cầu cụ thê b. Đọc và tìm hiểu về câu thơ Hoạt động 2: Cách viết của bài tập để tìm hiểu, (câu văn ) hay đoạn trích được nêu một đoạn bài cảm thụ ví dụ: cách dùng từ đặt trong bài văn học? câu; cách dùng hình ảnh, chi tiết; cách sử dụng biện pháp nghệ thuật quen thuộc như so sánh, Nêu ngắn gọn cách Cách nhân hóa, điệp ngữ đã viết một đoạn bài cảm thụ giúp em cảm nhận được văn học? nội dung, ý nghĩa gì đẹp đẽ, sâu sắc). c. Viết đoạn văn về cảm thụ văn học (khoảng 5-7 dòng) hướng vào yêu cầu của đề bài. (Đoạn văn có thể bắt đầu bằng một câu “mở đoạn” để dẫn dắt người đọc hoặc trả lời thẳng vào câu hỏi chính; tiếp đó, cầnnêu rõ các ý theo yêu cầu của đề bài; cuối cùng, có htể “kết đoạn” bằng một câu ngắn gọn để “gói” lại nội dung cảm thụ) 3- Các bước làm bài cảm thụ Hoạt động 3: Các bước văn học: làm bài cảm thụ văn học + Bước 1: Đọc kĩ đoạn văn, đoạn thơ, văn bản cần tìm hiểu + Bước 2: Nội dung đoạn văn, - Nội dung: yêu thiên - Em hãy nêu các bước đoạn thơ, văn bản đó nói lên điều nhiên- yêu nước. cảm thụ văn học? gì? - Nghệ thuật: Từ ngữ, phép so sánh... + Bước 3: Tìm hiểu về nghệ thuật HS thảo luận và nêu ý có trong bài (cách dùng từ, đặt kiến câu, biện pháp tu từ: so sánh, nhân hoá, điệp từ, điệp ngữ,...) + Bước 4: Những suy nghĩ, cảm xúc của em và rút ra bài học (nếu có) khi đọc đoạn văn, đoạn thơ đó. - Vận dụng: đọc thơ Bài Mùa thu mới, nhà + Bước 5: Sắp xếp các nội dung thơ Tố Hữu : Trong cuốn Hồi kí trên thành một đoạn văn, bài văn. Yêu biết mấy những dòng Bác Hồ, hai nhà văn sông bát ngát Hoài Thanh và Giữa đôi bờ dào dạt lúa Thanh Tịnh đã tả ngô non phong cảnh quê Yêu biết mấy, những con hương Bác như sau: đường ca hát Trước mắt chúng tôi, Qua công trường mới giữa hai dãy núi là dựng mái nhà son! nhà Bác với cánh Bài Việt Nam thân yêu đồng quê Bác. Nhìn (TV5-tập 1), nhà thơ xuống cánh đồng có Nguyễn Đình Thi: đủ các màu xanh, Việt Nam đất nước ta ơi! xanh pha vàng của Mênh mông biển lúa đâu ruộng mía, xanh rất trời đẹp hơn. mượt mà của lúa Cánh cò bay lả dập dờn, đương thời con gái, Mây mờ che đỉnh Trường xanh đậm của những Sơn sớm chiều. rặng tre; đây đó một Nêu những cảm nhận của vài cây phi lao xanh em khi đọc đoạn thơ trên. biếc và nhiều màu xanh khác nữa. 4. Củng cố: Đọc diễn cảm thơ, kể tác phẩm truyện. 5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới: Sưu tầm đoạn thơ, văn xuôi và viết lời cảm thụ. Tập viết đoạn văn cảm nhận bài cảnh khuya. IV. Rút kinh nghiệm: Tuần: 1 Ngày soạn: 15-8-2020 Tiết : 2 Chuyên đề: CẢM THỤ VĂN HỌC I. MỤC TIÊU : 1/ Kiến thức: - Nhận biết một số đặc điểm cơ bản của các thể loại thơ, văn xuôi. - Bồi dưỡng năng lực đọc – hiểu văn bản nghệ thuật. 2/ Kĩ năng: - Nâng cao kĩ năng phân tích vai trò và tác dụng của một số biện pháp tu từ Tiếng Việt khi cảm thụ tác phẩm văn học. - Vận dụng kĩ năng viết bài văn cảm thụ thơ, văn. 3/ Thái độ: - Biết yêu quí, trân trọng các thành tựu của văn học, có ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt. - Biết yêu quí những giá trị chân, thiện, mĩ và có thái độ khinh ghét những cái xấu, ác thông qua những tác phẩm văn học được cảm thụ. II. CHUẨN BỊ : - Thầy : giáo án, đọc tư liệu tham khảo, tìm bài tập nâng cao. - Trò : Đoc kỹ tư liệu, chuẩn bị theo hướng dẫn của giáo viên III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP : 1. Ổn định lớp : Sĩ số: 2. Kiểm tra bài cũ : 3.Nội dung bài mới : Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung cơ bản Hoạt động 1: Cách viết I/ Ôn tập các bước làm bài cảm một bài cảm thụ thơ thụ văn học. 1- Cảm thụ văn học là gì? Thế nào là thơ? Thơ trữ 2- Các bước làm bài cảm thụ tình? văn học: Thơ là một thể loại VH II/ Cách viết một bài cảm thụ được xây dựng bằng hình thức ngôn ngữ ngắn gọn văn học. Ví dụ: súc tích, theo những quy 1/ Cách viết một bài cảm thụ thơ. Tiếng gà trưa luật ngữ âm nhất định, nhằm phản ánh tâm trạng, - Thế nào là thơ trữ tình. Đêm nay Bác không thái độ, tình cảm,... của Thơ trữ tình dùng để chỉ chung ngủ... người nghệ sĩ về đ/s -> đọc diễn cảm. thông qua những hình các thể thơ thuộc loại trữ tình, tượng nghệ thuật. trong đó nhà thơ bộc lộ một cách - Trữ tình là phương thức trực tiếp những cảm xúc riêng tư, phản ánh (hiện thực đ/s; hiện thực tâm trạng) bằng cá thể về đời sống, thể hiện tư cách bộc lộ trực tiếp tình tưởng về con người, cuộc đời và cảm, ý thức của tác giả thời đại nói chung. Nội dung của - Đặc trưng của thơ trữ thông qua cái tôi trữ tình, tình? mang đậm dấu ấn cá thơ trữ tình là biểu hiện tư tưởng, nhân của chủ thể. tình cảm làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư tâm trạng, nỗi niềm. - Đặc trưng của thơ trữ tình. + Tính trữ tình: Trữ tình là yếu tố quyết định tạo -> Vận dụng: xác định nên chất thơ, thơ luôn thiên về tính trữ tình trong bài thơ diễn tả những cảm xúc, rung động, Tiếng gà trưa suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời. Chủ thể trữ tình là con Tác giả Xuân Quỳnh + Chủ thể trữ tình: người đang cảm xúc, suy tư trong tác phẩm thơ. -> Vận dụng: xác định chủ thể trữ tình trong bài thơ Tiếng gà trưa + Nội dung phản ánh trong thơ GV giới thiệu nội dung trữ tình: phản ánh trong thơ trữ Thơ trữ tình biểu hiện trực tình tiếp thế giới chủ quan của con người. -> Vận dụng: xác định nội Thơ trữ tình phản ánh thế dung phản ánh trong bài giới khách quan nhằm biểu hiện thơ Tiếng gà trưa. thế giới chủ quan. -> Vận dụng: xác định đặc + Đặc điểm của ngôn ngữ thơ điểm ngôn ngữ trong bài - Giàu hình ảnh, gợi trữ tình: Ngôn ngữ thơ trữ tình thơ Tiếng gà trưa. cảm xúc.. hàm súc, cô đọng. Ngôn ngữ thơ Đọc bài thơ sau: giàu tính nhịp điệu. Quê em Bên này là núi uy nghiêm Bên kia là cánh đồng liền chân mây Xóm làng xanh mát bóng cây Sông xa trắng cánh buồm bay lưng trời... (Trần Đăng Khoa) 4. Củng cố: Đọc diễn cảm thơ, kể tác phẩm truyện 5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới: Sưu tầm đoạn thơ, văn xuôi và viết lời cảm thụ. IV. Rút kinh nghiệm: Tuần: 1 Ngày soạn: 16-8-2020 Tiết : 3 Chuyên đề: CẢM THỤ VĂN HỌC I. MỤC TIÊU : 1/ Kiến thức: - Nhận biết một số đặc điểm cơ bản của các thể loại thơ, văn xuôi. - Bồi dưỡng năng lực đọc – hiểu văn bản nghệ thuật. 2/ Kĩ năng: - Nâng cao kĩ năng phân tích vai trò và tác dụng của một số biện pháp tu từ Tiếng Việt khi cảm thụ tác phẩm văn học. - Vận dụng kĩ năng viết bài văn cảm thụ thơ, văn. 3/ Thái độ: - Biết yêu quí, trân trọng các thành tựu của văn học, có ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt. - Biết yêu quí những giá trị chân, thiện, mĩ và có thái độ khinh ghét những cái xấu, ác thông qua những tác phẩm văn học được cảm thụ. II. CHUẨN BỊ : - Thầy : giáo án, đọc tư liệu tham khảo, tìm bài tập nâng cao. - Trò : Đoc kỹ tư liệu, chuẩn bị theo hướng dẫn của giáo viên: III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP : 1. Ổn định lớp : Sĩ số: 2. Kiểm tra bài cũ : 3.Nội dung bài mới : Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung cơ bản Hoạt động 1: Các hình I/ Ôn tập các bước làm bài cảm thức nghệ thuật cần chú thụ văn học. ý khi phân tích thơ trữ 1- Cảm thụ văn học là gì? tình 2- Các bước làm bài cảm thụ - Các hình thức nghệ thuật văn học: cần chú ý khi phân tích II/ Cách viết một bài cảm thụ thơ trữ tình ? văn học. 1/ Cách viết một bài cảm thụ - Vận dụng: thơ. Phân tích để làm rõ giá Các hình thức nghệ thuật cần chú trị hình ảnh thơ tiêu biểu, ý khi phân tích thơ trữ tình : vần, nhịp, từ ngữ và các -Thời gian, không + Chú ý đến hình ảnh thơ tiêu biểu, biện pháp tu từ, không gian đặc biệt vần, nhịp, từ ngữ và các biện pháp tu từ, gian và thời gian nghệ - Hình ảnh thơ độc không gian và thời gian nghệ thuật thuật trong bài thơ Đêm đáo, từ ngữ sáng tạo: nay không ngủ (Minh Bác vẫn ngồi đinh Huệ) ninh.. Ví dụ: + Những câu thơ, đoạn thơ sử dụng một hoặc phần lớn một loại thanh là Bàn đá chông chênh những câu thơ đặc biệt. dịch sử Đảng Cuộc đời cách mạng thật là sang. “ Tìm nơi thăm thẳm rừng Ví dụ: Câu thơ trong + Khi gặp đoạn thơ mang nhiều vần, sâu bài Đồng chí (Chính hoặc sử dụng thanh đặc biệt cần chú ý để Hữu) phân tích chỉ ra vai trò của chúng trong Bập bùng hoa chuối, trắng việc biểu hiện nội dung. + Khi đọc cũng như khi phân tích thơ, màu hoa ban”. cần chú ý đến các dấu câu->ngắt nhịp làm tăng sức biểu cảm cho thơ. Em hãy chỉ ra cái + Trong một bài thơ, cần nhận ra đúng hay của từ “bập bùng”? Ví dụ: chữ “ hay”, “ đắt” và phân tích cái hay, Khổ thơ cuối trong cái đẹp của chúng (những chữ dùng hay, đắt ). bài Đêm nay Bác + Các nhà thơ ca thường sử dụng các không ngủ. biện pháp tu từ như một phương tiện Thực hành các đề cảm nghệ thuật quan trọng, qua đó để biểu Ví dụ: Hình ảnh mặt hiện cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của thụ về bài thơ, đoạn thơ, trời trong bài thơ mình. đoạn văn, chi tiết độc đáo, Viếng lăng Bác (Viễn + Chỉ chú ý phân tích các yếu tố nghệ hình ảnh thơ độc đáo, hình thuật độc đáo (chỉ ra vai trò, tác dụng Phương) tượng nhân vật trong đoạn của những yếu tố ấy trong việc thể hiện văn thơ hay văn bản hoàn nội dung) Tránh phân tích tràn lan, tránh chỉnh. suy diễn một cách gượng ép về ý nghĩa và tác dụng của các thủ pháp nghệ thuật. 4. Củng cố: Đọc diễn cảm thơ, kể tác phẩm truyện,. Nhấn mạnh nội dung chính. 5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới: Sưu tầm đoạn thơ, văn xuôi và viết lời cảm thụ. Tìm hiểu cách viết bài cảm thụ văn xuôi IV. Rút kinh nghiệm: Kí duyệt tuần 1 ngày 9.9.2020 Tổ trưởng Nguyễn Thị Định Nhà thơ Tố Hữu sáng tác bài Lượm vào năm 1949, in trong tập thơ Việt Bắc. Bài thơ đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc hình ảnh Lượm, một em bé thiếu nhi hy sinh vì nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lượm là bài thơ tự sự – trữ tình kể về cuộc đời ngắn ngủi nhưng rất anh dũng của chu bé liên lạc, hồn nhiên, nhí nhảnh, yêu đời, dũng cảm đã ngã xuống để bảo vệ sự bình yên cho chính mảnh đất quê hương mình. Hình ảnh nhân vật Lượm xuyên suốt trong bài thơ. Trong năm khổ thơ đầu, bằng cái nhìn trìu mến thân thương, tác giả đã miêu tả một chú bé rất đáng yêu: Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh. Ca nô đội lệch Mồm huýt sáo vang con chim chích Nhảy trên đường vàng Nhắc đến Lượm, người đọc nhớ đến hai khổ thơ này, bởi đây là hai khổ thơ đầy ấn tượng về một chú bé liên lạc nhỏ nhắn, xinh xinh, nhanh nhẹn hồn nhiên, nhí nhảnh vui tươi. Những từ láy loát choắt, xinh xinh, thoăn thoát, nghênh nghềnh được dùng rất gợi hình gợi cảm, cùng với thể thơ bốn chữ và nhịp thơ nhanh, tạo âm hưởng vui tươi, nhí nhảnh rất phù hợp với một chú bé như Lượm. Một hình ảnh so sánh đẹp như con chim chích – nhảy trên đường vàng gợi lên trước mắt chúng ta một chú bé hồn nhiên yêu đời. Thật thú vị! Nhà thơ Lê Đức Thọ cũng có bài thơ Em bé liên lạc, ông cũng hình dung em như một con chim non vui tươi ở những câu kết: Ngày mai trên quãng đường trắng Có em bé lại dẫn đường bên anh. Miệng cười chân bước nhanh nhanh, Như con chim nhỏ trên cành vui tươi. Có lẽ không còn hình ảnh nào có thể thay thế cho được hình ảnh con chim nhỏ và chỉ có hình ảnh này mới thể hiện được vẻ đẹp trẻ thơ của chú bé liên lạc. Bao trùm lên tất cả là cái tình của nhà thơ, cái nhìn trìu mến, thân thương của tác giả đối với chú bé. Phải yêu quí Lượm lắm thì mới miêu tả Lượm hay đến như vậy! Người đọc yêu biết bao cái cười híp mí, má đỏ bồ quân của chú, nhưng càng yêu hơn niềm vui được tham gia kháng chiến của chú bé: Cháu đi liên lạc Vui lắm chú à Ở đồn Mang Cá Thích hơn ở nhà! Nhà thơ miêu tả Lượm vui như con chim sổ lồng. Cái ý đi làm liên lạc thích hơn ở nhà, đúng là niềm vui của con chim sổ lồng. Đó là niềm vui chung của cả thế hệ trẻ sau Cách mạng tháng Tám, chứ không riêng gì của chú bé Lượm Đáng yêu hơn là tiếng chào: Thôi chào đồng chí vừa tinh nghịch dí dỏm, lại vừa đứng đắn nghiêm trang, bởi em đã tham gia kháng chiến như mọi người, như chú của em vậy. Trong tiếng chào ấy ta thấy vang lên một niềm tự hào kiêu hãnh rất trẻ con, và rất đáng yêu-của Lượm. Ấn tượng của cuộc gặp gỡ vẫn còn giữ nguyên vẹn nét đẹp đẽ, vui tươi, ấm áp trong lòng tác giả, thì bỗng nhiên có tin Lượm hy sinh. Câu thơ bốn tiếng được ngắt làm hai dòng, bị gãy đôi như một tiếng nấc: Ra thế Lượm ơi! Đó là nỗi sửng sốt, xúc động đến nghẹn ngào. Và nhà thơ hình dung ngay ra cảnh tượng chú bé hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ: Một hôm nào đó Như bao hôm nào Chú đồng chí nhỏ Bỏ thư vào bao Vụt qua mặt trận Đạn bay vèo vèo Thư để “thượng khẩn” Sợ chi hiểm nghèo? Để rồi lại nghẹn ngào gọi em một lần nữa: Bỗng lòe chớp đỏ Thôi rồi Lượm ơi! Chú đồng chí nhỏ Một dòng máu tươi! Lượm đã hy sinh anh dũng như một chiến sĩ thực thụ ở trên, nhà thơ còn gọi em bằng cháu, và ở đây khi kể lại cảnh Lượm hy sinh. Tố Hữu đã gọi chú bàng những lời xưng hô trang trọng: Chú đồng chí nhỏ và có tới hai lần gọi như thế. Việc làm của em, sự hy sinh cao đẹp của em khiến em xứng đáng được nhà thơ gọi như thế. Phải chăng đó là lòng cảm phục của một cán bộ cách mạng đối với một em thiếu nhi anh hùng. Nhưng rồi cuối cùng, tình cảm công dân ấy lại quay về tình chú – cháu. Nhà thơ lại gọi Lượm bằng tiếng cháu thân thương khi miêu tả cái chết đẹp đẽ cua em giữa đồng lúa quê hương: Cháu nằm trên lúa Tay nắm chặt bông Lúa thơm mùi sữa Hồn bay giữa đồng Cánh đồng quê hương như vòng nôi, như vòng tay của mẹ, ấm êm dịu dàng đón em vào lòng. Em chết mà tay vẫn nắm chặt bông lúa, quê hương và hương lúa vẫn bao bọc quanh em như ru em vào giấc ngủ đẹp của tuổi thơ anh hùng. Em chết mà hồn bay giữa đồng, vừa thiêng liêng vừa gần gũi biết bao! Không yêu mến, xót thương, cảm phục Lượm thì không thể miêu tả một cái chết hồn nhiên và lãng mạn đến như thế! Đó là cái chết của những thiên thần nhỏ bé. Thiên thần nhỏ bé ấy đã bay đi để lại bao tiếc thương cho chúng ta, như Tố Hữu đã nghẹn ngào, đau xót gọi em lần thứ ba bằng một câu thơ day dứt: Lượm ơi còn không? Câu thơ đứng riêng thành một khổ thơ, như một câu hỏi xoáy sâu vào lòng người đọc. Nếu không có cái tình với Lượm thì nhà thơ làm sao lại day dứt thế được! Câu hỏi ngân vang ấy, tưởng chừng như không có câu trả lời, nhưng chính tác giả đã trả lời bằng hai khổ thơ cuối khép lại bài thơ: Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng. Hai khổ thơ cuối láy lại khổ thơ thứ hai và khổ thơ thứ ba như một điệp khúc để khẳng định Lượm vẫn còn sống mãi với quê hương đất nước, sống mãi trong lòng tác giả. Bài thơ hết nhưng ý thơ lại mở ra vẫn còn tiếp nối mãi trong lòng người đọc hình ảnh một chú bé liên lạc hồn nhiên mà dũng cảm, đáng yêu và đáng cảm phục. Lượm vẫn còn công mãi trong lòng chúng ta như bài ca bất diệt về tuổi thơ trong sáng đã hiến dâng đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc. Với thể thơ bốn chữ, một thể thơ dân gian truyền thống phù hợp với lối kể chuyện có nhịp kể nhanh. Với cách ngắt đôi câu thơ đột ngột, và nghệ thuật tách câu thơ thành một khổ thơ riêng rất độc đáo, kết hợp với cách sử dụng câu hỏi tu từ, câu cảm thán Lượm thật sự là một bài thơ hay, cảm động về một tấm gương bé bỏng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tài liệu đính kèm: