Giáo án Nâng cao Ngữ văn 7 - Tuần 23, Tiết 64-66: Một số yếu tố nghệ thuật trong thơ trữ tình - Năm học 2020-2021

doc 20 trang Người đăng Mạnh Chiến Ngày đăng 15/12/2025 Lượt xem 33Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Nâng cao Ngữ văn 7 - Tuần 23, Tiết 64-66: Một số yếu tố nghệ thuật trong thơ trữ tình - Năm học 2020-2021", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Tuần: 23
 Ngày soạn: 14-1-2021
 Tiết : 64, 65, 66 Một số yếu tố nghệ thuật trong thơ trữ tình 
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức:
- Bước đầu nắm được một số khái niệm thơ trữ tình, khái niệm các thể thơ, vần nhịp, 
- Mở rộng và nâng cao một số kiến thức về vần, nhịp, thanh điệu và một số biện pháp tu từ.
- Nắm được một số phương pháp tiếp nhận và phân tích, bình giảng thơ trữ tình dựa trên cơ 
sở hình thức nghệ thuật và đặc trưng thể loại.
2. Kĩ năng:
- Nhận diện được đặc trưng cơ bản của thể loại thơ trữ tình qua các văn bản cụ thể.
- Bước đầu phân biệt sự khác nhau giữa thơ trữ tình với tùy bút, truyện ngắn...
- Biết đọc diễn cảm, vận dụng những đặc trưng của thể thơ trữ tình để phân tích cảm thụ 
một văn bản cụ thể hoặc một văn bản bất kì.
3. Thái độ:
- Trân trọng, gìn giữ những vẻ đẹp, giá trị được thể hiện trong các bài thơ trữ tình. Từ đó có 
ý thức gìn giữ, bảo vệ và phát huy các vẻ đẹp quí báo của dân tộc.
- Có ý thức vận dụng hiểu biết về thơ để đọc –hiểu các văn bản thơ trữ tình.
II- CHUẨN BỊ:
 - Thầy : giáo án, SGK, đọc tư liệu tham khảo, chuẩn KTKN
 - Trò : ôn lại phần văn thuyết minh đã học.
III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP :
 1. Ổn định lớp :
 2. Kiểm tra bài cũ :
 3.Nội dung bài mới :
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung cơ bản
Hoạt động 1: Những nét chung I. Những nét chung về thơ trữ 
về thơ trữ tình. tình.
 Hoạt động 2: Những yếu tố hình 1. Khái niệm thơ trữ tình: 
thức cơ bản cần chú ý khi phân 
tích thơ trữ tình 2. Phân loại thơ trữ tình:
 3. Đặc điểm của thơ trữ tình:
- Yếu tố ngôn từ II. Những yếu tố hình thức cơ 
Ngôn ngữ thơ trữ tình giàu cảm “Chiếc thuyền im bản cần chú ý khi phân tích thơ 
xúc, lời thơ thường là lời đánh giá, bến mỏi trở về nằm trữ tình:
trực tiếp thể hiện mối quan hệ của Nghe chất muối - Yếu tố ngôn từ
chủ thể với cuộc đời, thể hiện tình thấm dần trong thớ - Các biện pháp tu từ
cảm của nhà thơ với cuộc sống. Vì vỏ - Vần, nhịp
vậy, việc lựa chọn từ ngữ, phương Tôi thấy nhớ cái mùi 
thức tu từ trong thơ bao giờ cũng nồng mặn quá” 
nhằm làm thái độ đánh giá. Chính (Quê hương – Tế 
vì vậy, sự lựa chọn từ ngữ, phương Hanh) 
thức tu từ trong tác phẩm trữ tình 
– chủ yếu là trong thơ – luôn luôn 
nhằm làm cho nội dung cảm xúc, * Cách phân tích trữ tình
thái độ đánh giá, sự đồng cảm VD: Nỗi niềm chi 
 a) Bám sát vào văn bản thơ, hoặc phê phán của chủ thể trở nên rứa Huế ơi Mà mưa tiến hành chia đoạn và tìm 
nổi bật. xối xả trắng trờI những ý chính của mỗi đoạn. 
 Thừa Thiên (Mẹ Đối với từng khổ, đoạn, câu 
- Các biện pháp tu từ Tơm - Tố Hữu) VD: thơ vẫn có thể chia tách ra 
 Thứ nhất: Phân tích tác phẩm văn Ruộng nương anh thành các ý nhỏ được. Riêng 
học không thể thoát ly và bỏ qua gửi bạn thân cày đối với thơ tứ tuyệt (ví dụ một 
yếu tố từ ngữ Gian nhà không mặc số bài thơ của Hồ Chí Minh 
 Thứ hai: Người ta nói nhiều đến kệ gió lung lay trong Nhật kí trong tù), cách 
phân tích hình ảnh trong tác phẩm (Đồng Chí – Chính thức thông thường là chia theo 
văn học, nhưng phân tích hình ảnh Hữu) cấu trúc: khai, thừa, chuyển, 
trong tác phẩm văn học là phân hợp; hoặc chia thành hai câu 
tích từ ngữ. đầu và hai câu cuối (tuỳ từng 
- Thứ ba: Để tạo cách nói, cách bài cụ thể).
viết có hình ảnh, gợi hình tượng 
bằng từ ngữ. Các nhà văn có thể b) Sau khi tìm được ý chính 
vận dụng những cách: khi thì dùng của mỗi đoạn, biến những ý 
từ láy: chính đó thành các luận điểm. 
 - Thứ tư: Ngôn từ Văn học là loại Ví dụ với bài Tràng giang, có 
ngôn từ đã được chắt lọc từ ngôn thể chia ra làm ba luận điểm 
ngữ đời thường, được nâng cấp, tương ứng ba phần như sau:
sửa sang, làm cho nó càng óng ả, 
giàu đẹp hơn. Các biện pháp tu từ - Hình ảnh dòng sông mênh 
chính là những phương tiện quan mang vô tận.
trọng để thực hiện nhiệm vụ trang 
điểm cho ngôn từ văn học. Có rất - Hình ảnh dòng sông hoang 
nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán vắng.
dụ, nhân hóa, so sánh, điệp ngữ, 
 - Tâm trạng nhớ nhà, nhớ 
 quê hương của tác giả.
- Vần, nhịp VD: Cùng trông lại 
 Tiếng Việt rất giàu tính nhạc. Hệ mà cung chẳng thấy c) Khi phân tích thì thao tác 
thống vần điệu và thanh điệu là Thấy xanh xanh giảng giải, cắt nghĩa là quan 
những yếu tố cơ bản tạo nên tính những mấy ngàn dâu trọng nhất, nhằm giúp cho 
nhạc của Tiếng Việt nói chung và Ngàn dâu xanh người đọc hiểu được ý nghĩa 
ngôn từ văn học nói riêng. Vì vậy ngắt một của tác phẩm trên tất cả các 
khi phân tích thơ trữ tình giáo viên Lòng chàng ý thiếp cấp độ, làm cho người đọc tin 
cần chú ý phân tích vần thơ, cách ai sầu hơn ai. và đồng cảm với những ý kiến 
gieo vần của mình. Cho nên thành phần 
 lí lẽ phải chiếm vịtrí cơ bản, 
 sau đó mới kết hợp với những 
 dẫn chứng nhằm minh hoạ cho 
 lí lẽ. Việc phân tích các dẫn 
 chứng lấy ra từ tác phẩm (hình 
 ảnh, câu, từ, nhạc điệu, các thủ 
 pháp chuyển nghĩa...) phải lựa 
 chọn những dẫn chứng tiêu 
 biểu, thích hợp. Ví dụ trong 
 khổ thơ đầu của Đây mùa thu 
 tới có hai hình ảnh chính: rặng liễu và chiếc áo...
 d) Trong quá trình phân tích, 
 luôn luôn hướng đến sự tổng 
 hợp, khái quát ở từng cấp độ 
 sao cho thích hợp để rồi tiến 
 tới những khái quát lớn của 
 toàn bài. Luận điểm là một 
 khái quát. Toàn bài có khái 
 quát của toàn bài. Đây chính là 
 quá trình quy nạp. Tuy nhiên 
 trong bài làm, các thao tác có 
 khi biến hoá rất linh hoạt, có 
 thể đi theo con đường diễn 
 dịch vẫn chấp nhận được.
 e) Tránh diễn nôm các câu 
 thơ thành văn xuôi. Nếu diễn 
 nôm thì bài viết thiếu cảm xúc, 
 rời rạc, không hấp dẫn người 
 đọc.
Hoạt động 3: Cách phân tích trữ * Cách phân tích trữ tình
tình a) Bám sát vào văn bản thơ, 
 tiến hành chia đoạn và tìm 
 những ý chính của mỗi đoạn. 
 Đối với từng khổ, đoạn, câu 
GV hướng dẫn HS cách phân thơ vẫn có thể chia tách ra 
tích thơ trữ tình. thành các ý nhỏ được. Riêng 
 đối với thơ tứ tuyệt (ví dụ một 
a) Bám sát vào văn bản thơ, tiến số bài thơ của Hồ Chí Minh 
hành chia đoạn và tìm những ý trong Nhật kí trong tù), cách 
chính của mỗi đoạn. thức thông thường là chia theo 
 cấu trúc: khai, thừa, chuyển, 
 hợp; hoặc chia thành hai câu 
 Học sinh minh hoạn đầu và hai câu cuối (tuỳ từng 
 ở đoạn văn, văn bản bài cụ thể).
 cụ thể b) Sau khi tìm được ý chính 
 của mỗi đoạn, biến những ý 
b) Sau khi tìm được ý chính của chính đó thành các luận điểm. 
mỗi đoạn, biến những ý chính đó c) Khi phân tích thì thao tác 
thành các luận điểm giảng giải, cắt nghĩa là quan 
Ví dụ với bài Tràng giang, có thể trọng nhất, nhằm giúp cho 
chia ra làm ba luận điểm tương người đọc hiểu được ý nghĩa 
ứng ba phần như sau: của tác phẩm trên tất cả các 
- Hình ảnh dòng sông mênh cấp độ, làm cho người đọc tin 
mang vô tận. HS xác định luận và đồng cảm với những ý kiến - Hình ảnh dòng sông hoang điểm trong bài Quê của mình. Cho nên thành phần 
vắng. hương? lí lẽ phải chiếm vị trí cơ bản, 
- Tâm trạng nhớ nhà, nhớ quê sau đó mới kết hợp với những 
hương của tác giả. dẫn chứng nhằm minh hoạ cho 
c) Khi phân tích thì thao tác lí lẽ. Việc phân tích các dẫn 
giảng giải, cắt nghĩa là quan chứng lấy ra từ tác phẩm (hình 
trọng nhất, nhằm giúp cho ảnh, câu, từ, nhạc điệu, các thủ 
người đọc hiểu được ý nghĩa của pháp chuyển nghĩa...) phải lựa 
tác phẩm trên tất cả các cấp độ, chọn những dẫn chứng tiêu 
làm cho người đọc tin và đồng biểu, thích hợp. Ví dụ trong 
cảm với những ý kiến của mình. khổ thơ đầu của Đây mùa thu 
d) Trong quá trình phân tích, tới có hai hình ảnh chính: rặng 
luôn luôn hướng đến sự tổng liễu và chiếc áo...
hợp, khái quát ở từng cấp độ sao d) Trong quá trình phân tích, 
cho thích hợp để rồi tiến tới luôn luôn hướng đến sự tổng 
những khái quát lớn của toàn hợp, khái quát ở từng cấp độ 
bài. sao cho thích hợp để rồi tiến 
e) Tránh diễn nôm các câu thơ tới những khái quát lớn của 
thành văn xuôi. Nếu diễn nôm toàn bài. Luận điểm là một 
thì bài viết thiếu cảm xúc, rời khái quát. Toàn bài có khái 
rạc, không hấp dẫn người đọc. quát của toàn bài. Đây chính là 
 quá trình quy nạp. Tuy nhiên 
 trong bài làm, các thao tác có 
 khi biến hoá rất linh hoạt, có 
 thể đi theo con đường diễn 
 dịch vẫn chấp nhận được.
Hoạt động 4: III- Thực hành
1- Cảm nhận cảnh con hổ trong 1- Cảm nhận cảnh con hổ trong 
chốn giang sơn hùng vĩ (đoạn chốn giang sơn hùng vĩ (đoạn 
2,3) trong bài Nhớ rừng 2,3) trong bài Nhớ rừng
 - Cảnh sơn lâm hùng vĩ:
Hướng dẫn HS viết văn bản cảm + Bóng cả, cây già
nhận theo gợi ý: cảm nhận nội + Gió gào ngàn, giọng 
dung, nghệ thuật nguồn hét núi 
 + Thét khúc trường ca.
 -> Núi rừng đại ngàn, lớn lao, 
 phi thường.
HS có thể diễn đạt theo nhiều + Chốn ngàn năm cao cả, 
hướng nhưng phải đảm bảo nội âm u 
dung cơ bản + Cảnh nước non hùng vĩ
 - Cảnh sơn lâm hùng -> Hoang vu, bí mật.
 vĩ: - Hình ảnh con hổ – Chúa Sơn 
 lâm: 
 + Dõng dạc đường hoàng, 
 lượn tấm thân 
 -> Câu thơ sống động, giàu 
 - Hình ảnh con hổ – chất tạo hình: vẻ đẹp uy nghi, 
 Chúa Sơn lâm: dũng mãnh mềm mại, uyển chuyển.
 => Từ ngữ phong +“Những đêm vàng.. "->lãng 
 phú diễn tả cái lớn mạng như một thi sĩ.
 lao, mạnh mẽ, phi +“Những ngày mưa.."->như 
 thường. một nhà hiền triết .
 +“Bình minh...."->nên thơ như 
 đế vương
 +“Chiều lênh láng.. "-> dữ dội 
 như vị chúa tể.
-> Nỗi bất hòa sâu sắc với thực -> Bộ tranh tứ bình đẹp lộng 
tại và niềm khát khao tự do lẫy- thiên nhiên hùng vĩ, thơ 
mãnh liệt. mộng; chúa sơn lâm tư thế lẫm 
=> Niềm khát khao tự do mãnh liệt, kiêu hùng, đầy uy lực.
liệt của nhân vật trữ tình đồng - Điệp ngữ: nào đâu..-> nỗi 
thời biểu lộ lòng yêu nước thầm nhớ khôn nguôi của hổ đối với 
kín của người dân mất nước. cảnh không bao giở thấy nữa.
 - Than ôi! Thời. . . . đâu ? -> 
2. Phân tích hai câu thơ cuối để lời than u uất.
cảm nhận cái “sang” của người 2. Phân tích hai câu thơ cuối để 
chiến sĩ cách mạng: cảm nhận cái “sang” của người 
 HS thực hành và nêu chiến sĩ cách mạng:
 ý kiến - Công việc: dịch lịch sử Đảng
 -> Vần trắc: khỏe khoắn, mạnh 
 mẽ.
 - Điều kiện:“Bàn...chênh”-> 
 Từ láy tạo hình, gợi cảm.
 - Đánh giá việc làm : “Thật là 
 sang”
 => Bản lĩnh phi thường, tự tin, 
 bất chấp khó khăn. Cái “sang” 
 chính là niềm vui sướng khi 
 được cống hiến cho dân cho 
 nước.
4. Củng cố: Đọc thơ trữ tình
 Cảm nhận khổ thơ trong chương trình
5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới:
 Tìm hiểu tác phẩm cụ thể
IV. Rút kinh nghiệm:
 Kí duyệt tuần 24 ngày 24- 02- 2021
 Tổ trưởng
 ND, HT:
 PP: 
 Nguyễn Thị Định Tuần: 27
 Ngày soạn: 20-2-2019
 Tiết : 77, 78 Một số yếu tố nghệ thuật trong thơ trữ tình 
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức:
- Bước đầu nắm được một số khái niệm thơ trữ tình, khái niệm các thể thơ, vần nhịp, 
- Mở rộng và nâng cao một số kiến thức về vần, nhịp, thanh điệu và một số biện pháp tu từ. - Nắm được một số phương pháp tiếp nhận và phân tích, bình giảng thơ trữ tình dựa trên cơ 
 sở hình thức nghệ thuật và đặc trưng thể loại.
 2. Kĩ năng:
 - Nhận diện được đặc trưng cơ bản của thể loại thơ trữ tình qua các văn bản cụ thể.
 - Bước đầu phân biệt sự khác nhau giữa thơ trữ tình với tùy bút, truyện ngắn...
 - Biết đọc diễn cảm, vận dụng những đặc trưng của thể thơ trữ tình để phân tích cảm thụ 
 một văn bản cụ thể hoặc một văn bản bất kì.
 3. Thái độ:
 - Trân trọng, gìn giữ những vẻ đẹp, giá trị được thể hiện trong các bài thơ trữ tình. Từ đó có 
 ý thức gìn giữ, bảo vệ và phát huy các vẻ đẹp quí báo của dân tộc.
 - Có ý thức vận dụng hiểu biết về thơ để đọc –hiểu các văn bản thơ trữ tình.
 II- CHUẨN BỊ:
 - Thầy : giáo án, SGK, đọc tư liệu tham khảo, chuẩn KTKN
 - Trò : ôn lại phần văn thuyết minh đã học.
 III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP :
 1. Ổn định lớp :
 2. Kiểm tra bài cũ :
 3.Nội dung bài mới :
 Hoạt động của thầy Hoạt động Nội dung cơ bản
 của trò
 Hoạt động 1: Những nét I. Những nét chung về thơ trữ tình.
 chung về thơ trữ tình. 1. Khái niệm thơ trữ tình: 
 Hoạt động 2: Những yếu 2. Phân loại thơ trữ tình:
 tố hình thức cơ bản cần 3. Đặc điểm của thơ trữ tình:
 chú ý khi phân tích thơ trữ II. Những yếu tố hình thức cơ bản cần chú 
 tình ý khi phân tích thơ trữ tình:
 Hoạt động 3: Cách phân - Yếu tố ngôn từ
 tích trữ tình - Các biện pháp tu từ
 Hoạt động 4: - Vần, nhịp
 * Cách phân tích trữ tình
 III- Thực hành
 3. Cảm nhận cảnh dân HS cảm nhận 1- Cảm nhận cảnh con hổ trong chốn 
 chài bơi thuyền đi đánh cá: về giang sơn hùng vĩ (đoạn 2,3) trong bài 
 - Yếu tố Nhớ rừng
 Hướng dẫn HS viết văn bản ngôn từ 2. Phân tích hai câu thơ cuối để cảm 
 cảm nhận theo gợi ý: cảm - Các biện nhận cái “sang” của người chiến sĩ cách 
 nhận nội dung, nghệ thuật pháp tu từ mạng:
 - Vần, nhịp 3. Cảm nhận cảnh dân chài bơi thuyền 
 đi đánh cá: Khổ thơ đầu (Quê hương)
 - Hai câu đầu :
 HS có thể diễn đạt theo Vị trí: làng biển.
 nhiều hướng nhưng phải Nghề: chài lưới.
 đảm bảo nội dung cơ bản - - Sáu câu tiếp theo - đoàn thuyền ra khơi: 
 + Không gian: trời trong, gió nhẹ, sớm 
 HS thực mai hồng.
 hành và nêu + Dân trai tráng-> khỏe khoắn
4. Cảm nhân cảnh đoàn ý kiến + Thuyền như con tuấn mã
 thuyền đánh cá trở về: + Động từ mạnh : phăng.. Khổ thơ cuối (Quê hương) + Cánh buồm giương to..-> hình ảnh đẹp, 
 giàu ý nghĩa: linh hồn của làng chài.
 --> Bức tranh thiên nhiên, bức tranh lao 
HS có thể cảm nhận đoạn động đầy hứng khởi, dạt dào sức sống.
thơ mà em đã sưu tầm 4. Cảm nhân cảnh đoàn thuyền đánh cá 
 trở về: Khổ thơ cuối (Quê hương)
 - Không khí: ồn ào, tấp nập.
 - Kết quả : cá đầy ghe..
 - - Tâm trạng: vui vẻ, hạnh phúc.
 bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp 
 niềm vui và sự sống.
 - - Dân chài: 
 Da ngăm...-> tả thực
 Cả thân hình..-> sáng tạo, gợi cảm, thú 
 vị, lãng mạn-> phi thường.
 - - Thuyền im, bến mỏi-> tâm hồn tinh tế.
 => Tâm hồn tinh tế, tài hoa, tấm lòng gắn 
 bó sâu nặng với người, cuộc sống ở làng 
 quê.
4. Củng cố: Đọc văn bản cảm nhận thơ trữ tình
5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới:
 Cảm nhận khổ thơ trong chương trình và tìm hiểu thêm các bài thơ khác.
IV. Rút kinh nghiệm: 1. Nhịp thơ: 
- Nhịp điệu có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với thơ trữ tình. Nó giúp nhà thơ nâng cao khả 
năng biểu cảm, cảm xúc. Phân tích thơ trữ tình tình không thể không chú ý đến phân tích 
nhịp thơ. Để xác định nhịp điệu của từng bài thơ ngoài việc đọc từng câu thơ cho ngân vang 
âm điệu và làm bừng sang hình ảnh thơ, việc nắm được đặc điểm chung của mỗi thể loại 
cũng là điều rất cần thiết. Thường thường nhip điệu câu thơ lục bát uyển chuyển,mềm mại, 
thanh thoát, nhịp điệu thơ thất ngôn bát cú hài hòa, chặt chẽ, nhịp của thơ tự do, thơ hiện đại 
rất phóng khoáng, phong phú.
- Trong thơ trữ tình, cùng với dấu câu, cách ngắt nhịp cần được xem là một từ đa nghĩa, một 
từ đặc biết trong vốn ngôn ngữ chung của nhân loại. Chúng ta đều biết rằng trong những 
tình huống giao tiếp thong thường của cuộc sống, im lặng lắm khi lại nói được rất nhiều: 
Khi căm thù tuột đỉnh, lúc xao xuyến bâng khuâng, khi cô đơn buồn bã, lúc xúc động dâng 
trào Những cung bậc tình cảm ấy nhiều khi không được mô tả bằng chữ nghĩa. Sự ngắt 
nhịp là một trong những phương tiện hữu hiệu để thể hiện “sự im lăng không lời” tạo nên “ý 
tại ngôn ngoại”, tính hàm nghĩa tạo ra điều không thể nói. VD: Khi dạy đoạn ngâm trong 
bài”Sau phút chia ly”. Ta thấy tâm trạng nhà thơ chi phối trực tiếp cách tổ chức, vận hành 
nhịp điệu của khúc ngâm. Với tâm trạng lưu luyến, nỗi buồn xa cách giữa người chinh phu 
và người chinh phụ. Chúng ta phải đọc đúng cách ngắt nhịp của khúc ngâm mới phân tích 
được khúc ngâm một cách sâu sắc.
 2. Vần thơ
 - Tiếng Việt rất giàu tính nhạc. Hệ thống vần điệu và thanh điệu là những yếu tố cơ bản tạo 
nên tính nhạc của Tiếng Việt nói chung và ngôn từ văn học nói riêng. Vì vậy khi phân tích 
thơ trữ tình giáo viên cần chú ý phân tích vần thơ, cách gieo vần 
 VD: Cùng trông lại mà cung chẳng thấy 
 Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu 
 Ngàn dâu xanh ngắt một 
 Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.
 - Vần của các câu được hiện với nhau trong đoạn thơ trên là sự hài hòa trong cùng một âm 
vực cao thấp, một trường độ âm thanh phát ra. Đó là sự hài hòa có được từ việc phối âm 
giữa các tiếng trong một cặp song thất. Xét từng cặp câu chúng ta thấy được sự hòa âm giữa 
câu 1 và câu 2, giữa câu 3 và câu 4 nhờ vào những âm giống nhau giữa tiến thứ bảy của câu 
bảy và tiếng thứ năm của câu bảy ở câu song thất, giữa tiếng thứ sáu của câu sáu và tiếng 
thứ sáu của câu tám trong cặp lục bát. Với sự hòa âm này của các câu thơ như níu kéo, lưu 
giữ lấy nhau trong từng đoạn hay cả bài thơ tạo nên sự trầm lắng, mênh mông, bang khuâng, da diết của cái buồn trong đoạn thơ, góp phần biểu đạt một cách hiệu quả tâm trạng nhân vật 
trữ tình.
 - Tạo nên nhạc tính của thơ thực ra không chỉ có vần và hệ thống âm điệu mà ngay cả các 
âm trong mỗi tiếng cũng có những giá trị biểu đạt nhất định. Theo Đinh Trọng Lạc âm “a” 
gợi sự vui tươi bao la “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” ( Phạm Tiến Duật), âm “r” gợi sự hãi 
hùng run sợ “Những luồng run rẩy rung rinh lá” (Xuân Diệu), Âm “u”, “âu” gợi sự u sầu 
bâng khuâng “Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu – Ngàn dâu xanh ngắt một màu”. - Có 
thể dẫn ra rất nhiều ví dụ để minh họa cho tính nhạc của ngôn ngữ Việt trong thơ. Khi ta 
phân tích tác phẩm văn học (Nhất là thơ) Giáo viên cần hết sức chú trọng yếu tố này. Khi 
thấy âm hưởng, nhạc điệu của câu thơ không bình thườngm, có sự chuyển đổi thì hãy tập 
trung phân tích chỉ ra giá trị, vai trò và tác dụng của chúng trong việc thể hiện nội dung. 
3. Từ ngữ và các biện pháp tu từ: 
 Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của hình thức chất liệu ngôn từ. Bởi vì mọi nội 
dung cần thể hiện của tác phẩm văn học không thể có cách nào khác là nhờ vào hệ thống từ 
ngữ ấy. Cá phương tiện như dấu câu nhịp điệu ngữ âm đã nêu ở trên chỉ có ý nghĩa khi nằm 
trong một văn bản mà từ ngữ là nền tảng. Nhà văn muốn mô tả, tái hiện hiện thực phải 
thông qua từ ngữ. Muốn đánh giá được nhà văn viết về những điều đó như thế nào lại cũng 
phải thong qua chữ nghĩa trong văn bản “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ” Chính là như 
vậy. Do tầm quan trọng ấy mà người ta coi lao động của nhà văn là thứ lao động chữ nghĩa. 
Có thể nói ngôn từ là một đặc trưng quan trọng và nổi bật của văn học. Vì thế giáo viên khi 
dạy phải chú ý một số điểm sau: 
 - Thứ nhất: Phân tích tác phẩm văn học không thể thoát ly và bỏ qua yếu tố từ ngữ. Muốn 
phân tích tốt từ ngữ trước hết phải nắm vững nghĩa của từ (Nghĩa chung và nghĩa trong văn 
cảnh cụ thể) sau đó luôn luôn suy nghĩ và đặt câu hỏi: Tại sao nhà văn dung từ này mà 
không dung từ khác? VD: trong bài “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” của Lý Bạch, câu thơ 
đầu “Sàng tiền minh nguyệt quang”, tại sao tác giả lại dung từ “sàng” mà không dung từ 
“thượng” đều có nghĩa là giường? hoặc tại sao từ ngữ này lại xuất hiện nhiều như thế? Có 
bao nhiêu từ đồng nghĩa với từ này? Có thể thay từ khác được không? VD: Trong bài 
“Tiếng gà trưa” ( Xuân Quỳnh) torng khổ thơ cuối từ “vì” có thay từ khác được không? Tại 
sao tác giả lại dung từ đó? hoặc giáo viên có thể đặt câu hỏi “ trong câu ấy, đoạn ấy từ nào 
cần chú ý?” Giáo viên cần phải lưu ý cho học sinh biết một bài thơ có những từ có giá trị 
diễn đạt đắt nhất. trong thực tế có những giáo viên không để ý khi phận tích, lại say sưa tán 
tụng những từ ngữ không phải nhãn tự của bài thơ sẽ làm mất thời gian và không làm nổi 
bật được bài thơ. Trong trường hợp phân tích các bài thơ những tác phẩm văn học dịch, phải 
thật thận trọng khi phân tích từ ngữ. Bởi vì những từ đưa ra bình giá chưa chắc là những từ 
tác giả dùng trong nguyên bản.
 - Thứ hai: Người ta nói nhiều đến phân tích hình ảnh trong tác phẩm văn học, nhưng phân 
tích hình ảnh trong tác phẩm văn học là phân tích từ ngữ. Nhiều người đã nhầm tưởng phân 
tích từ ngữ và hình ảnh khác nhau nhưng thật ra là một. VD: Câu thơ của Nguyễn Du tả 
chân dung Tú Bà. Thoát trông lờn lợt màu da Ăn gì to lớn đãy đà làm sao? (Truyện Kiều) 
Vẽ chính xác thần thái của một mụ chủ nhà chứa, bọn buôn thịt bán người. . Ta cũng thấy rõ 
thái độ của tác giả đối với loại người đó. Chữ “lờn lợt” lột tả được rõ nét nhất thần thái của 
Tú Bà! thực khó diễn tả bằng những từ ngữ khác: Vừa bóng nhẫy, vừa mai mái hay vàng 
bủng chăng? Đó là bộ mặt “thiếu vệ sinh” có nhà phê bình cho rằng ta đọc câu thơ này có 
cảm giác lợm giọng là như thế. Còn hai chữ “ăn gì” lại dường như muốn liệt mụ chủ chứa 
vào một giống loài gì đó không phải giống người. Bởi vì giống người thì ăn cơm, ăn thịt, ăn 
gạo, ăn cá Chu “ăn gì” là sao? Đó là một ví dụ để thấy phân tích hinh anh và phân tích từ 
ngữ là một điều giáo viên cần lưu ý - Hệ thống từ ngữ hình ảnh, cảm giác trong Tiếng Việt rất phong phú, da dạng VD: Gợi về 
tâm trạng như: xao xuyến, bang khuâng, phân vân Gợi về thị giác: La đà, lơ lửng, chấp 
chới Gợi về thính giác: mặn chat, chua lòm, ngọt lịm Gợi về xúc giác: Lạnh ngát, nóng 
bỏng, xù xì 
- Thứ ba: Để tạo cách nói, cách viết có hình ảnh, gợi hình tượng bằng từ ngữ. Các nhà văn 
có thể vận dụng những cách: khi thì dùng từ láy: VD: Nỗi niềm chi rứa Huế ơi Mà mưa xối 
xả trắng trờI Thừa Thiên (Mẹ Tơm - Tố Hữu) VD: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian 
nhà không mặc kệ gió lung lay (Đồng Chí – Chính Hữu) 
- Thứ tư: Ngôn từ Văn học là loại ngôn từ đã được chắt lọc từ ngôn ngữ đời thường, được 
nâng cấp, sửa sang, làm cho nó càng óng ả, giàu đẹp hơn. Các biện pháp tu từ chính là 
những phương tiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ trang điểm cho ngôn từ văn học. Có 
rất nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh, điệp ngữ, Tất cả những biện 
pháp đó nhằm mục đích giúp người nói, người viết có những cách diễn đạt hay hơn, đẹp 
hơn, phong phú hơn, và do vậy mà hiệu quả cao hơn. Phân tích các biện pháp tu từ giáo viên 
cần chỉ ra tính hiệu quả của cách viết, cách nói ấy, vai trò và tác dụng của chúng trong việc 
miêu tả, biểu đạt chứ không phải đơn thuần chỉ gọi tên liệt kê các biện pháp mà nhà văn đã 
dung. 
4. Không gian và thời gian trong thơ trữ tình: Không gian trong thơ trữ tình là nơi tác giả - 
cái tôi trữ tình hoặc nhân vật trữ tình xuất hiện để thổ lộ tấm long cũa mình. Không gian 
thường gắn với địa điểm chỉ nơi chốn như: cây đa, bến đò,mái đình, giếng nước, núi cao, 
biển sâu, trời rộng , song dài Nhiều địa danh riêng đã trở thành những không gian tượng 
trưng văn học như: Tiêu tương, Tầm Dương, Cô Tô, Xích Bích, Tây Thiên, Địa Ngục, 
Thiên Đường, Bồng Lai, Tiên Cảnh, Cõi Phật, SuốI vàng . Khi đọc tác phẩm Văn Học, 
chúng ta cnầ chú ý xem nhà văn mô tả không gian ở đây có gì đặc biệt, không gian ấy có ý 
nghĩa gì và nói được nội dung gì sâu sắc qua không gian đó.
Ngôn ngữ trong thơ trữ tình 
1.Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật: 
M. Gorki từng viết: “Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học”. Sở dĩ ngôn ngữ trong văn 
chương nói chung, trong thơ ca nói riêng được coi trọng hàng đầu là vì văn chương là nghệ 
thuật của ngôn từ. Ngôn ngữ nghệ thuật khác với ngôn ngữ giao tiếp thông thường, và 
“ngôn ngữ riêng” của các ngành nghệ thuật khác. Ngôn ngữ trong văn chương, trong thơ ca 
phải vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính hình tượng, uyển chuyển và linh hoạt biến hóa 
trong các biện pháp tu từ. 
 Ngôn từ là chất liệu xây dựng hình tượng của văn học. Mối quan hện giữa hình tượng và 
chất liệu không phải là sự kết hợp bên ngoài mà là sự thâm nhập, xuyên thấm vào nhau. 
Chất liệu là phương thức tồn tại của hình tượng. Nghệ sĩ ngay từ khi xây dựng ý đồ và tư 
duy hình tượng đã dựa hẳn trên khả năng của chất liệu. Ngôn từ trong văn học nói chung là 
ngôn ngữ được sử dụng với mọi phương tiện biểu hiện của lời nói, nhịp, vần, ngữ điệu, các 
biện pháp tu từ để tạo hình tượng nghệ thuật. 
Được khai thác từ ngôn ngữ toàn dân, song, ngôn từ văn học nghệ thuật có những đặc điểm 
riêng để khu biệt. 
2. Ngôn ngữ trong thơ trữ tình 
+ Ngôn ngữ thơ bão hòa cảm xúc: Ngôn ngữ thơ trữ tình giàu cảm xúc, lời thơ thường là lời 
đánh giá, trực tiếp thể hiện mối quan hệ của chủ thể với cuộc đời, thể hiện tình cảm của nhà 
thơ với cuộc sống. Vì vậy, việc lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng 
nhằm làm thái độ đánh giá. Chính vì vậy, sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong tác 
phẩm trữ tình – chủ yếu là trong thơ – luôn luôn nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể trở nên nổi bật. 
“Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm 
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ 
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá” 
(Quê hương – Tế Hanh) 
“Trời xanh đây là của chúng ta 
Núi rừng đây là của chúng ta 
Những cánh đồng thơm mát 
Những ngả đường bát ngát 
Những dòng sông đỏ nặng phù sa” 
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi) 
+ Ngôn ngữ giàu tính nhạc. 
Ngôn ngữ giàu tính nhạc, những âm thanh luyến láy, sự phối hợp thanh bằng trắc, cách ngắt 
nhịp gợi cảm, điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc tạo nên tính nhạc “thi trung hữu họa”, “thi 
trung hữu nhạc”. 
“Em không nghe mùa thu 
Dưới trăng mờ thổn thức? 
Em không nghe rạo rực 
Hình ảnh kẻ chinh phu 
Trong lòng người cô phụ? 
Em không nghe rừng thu 
Lá thu kêu xào xạc? 
Con nai vàng ngơ ngác 
Đạp trên lá vàng khô” 
(Tiếng thu – Lưu Trọng Lư) 
Hay: 
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm 
Heo hút cồn mây sung ngửi trời 
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống 
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi?” 
(Tây Tiến – Quang Dũng) 
Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động tình cảm, như nhịp đập của trái tim khi xúc 
động, ngôn ngữ thơ cũng có nhịp điệu. Âm thanh nhịp điệu, them hàm nghĩa của từ ngữ, gợ 
ra những điều mà từ ngữ không thể nói hết Đặc điểm quan trọng nhất của lời văn trong 
tác phẩm trữ tình là giàu tính nhạc. Nhạc tính này, do đặc điểm ngôn ngữ của từng dân tộc, 
được biểu hiện khác nhau. Trong thơ Việt Nam, tính nhạc thường được biểu hiện ở các mặt: 
sự cân đối, tầm bổng, nhịp nhàng và trùng điệp. 
Sự cân đối: là sự tương xứng hài hòa giữa các dòng thơ. Thơ cổ điển, thơ Đường luật 
thường chú ý tới sự hài hòa tương xứng này. Ngày nay thơ hiện đại phóng khoáng hơn, 
không theo một quy luật chặt chẽ nào (Tràng giang, Vội vàng, Đàn gh-ta của Lor-ca ) 
Do sự trầm bổng ngôn ngữ thơ: 
Ở trầm bổng là sự thay đổi những âm thanh cao thấp khác nhau giữa thanh Bằng với thanh 
Trắc. 
Và do sự phối hợp giữa các đơn vị ngữ âm tùy theo nhịp cắt để tạo nên nhịp. Nhịp điệu là 
bước đi của thơ 
VD: Xuân Diệu viết toàn thanh Bằng để gợi tả nét nhạc du dương đưa hồn phiêu diêu, bay bổng khi nghe nhị hồ: 
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời 
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” 
Âm thanh tram bổng được tạo ra từ nhịp cắt 
“Nhiêu đây ư em/ mấy tuổi rồi? 
Hai mươi 
Ờ nhỉ/ tháng năm trôi 
Sóng bồi them bãi/ thuyền thêm bến 
Gió lộng đường khơi/ rộng đất trời” 
 Ở ba dòng đầu bị cắt ra nhiều nhịp như sự dừng lại sững sờ ngạc nhiên trước sự đổi thay 
của thời đại. Dòng 4,5 nhịp dài ra như niềm vui trải rộng. 
Và: 
“Sen tàn/ cúc lại/ nở hoa 
Sầu dài/ ngày ngắn/ đông đà/ sang xuân” 
Nhịp 2/2 đều đặn như nhịp chuyển vần đều đặn của năm tháng 4 mùa. 
Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ: thể hiện ở sự dung vần, điệp câu, điệp ngữ 
-Vần trong thơ được láy lại có tác dụng nối dính các dòng thơ thành một đơn vị thống nhất 
có âm hưởng riêng, thuận lợi cho trí nhớ. Thơ có vần chính và vần thông. Vần chính là vần 
có cùng một khuôn âm, vần thông là theo một khuôn âm tương tự. Xét về vị trí, vần chia ra 
vần chân (cước vận) tức là vần ở cuối dòng thơ, và vần lưng ( yêu vận) tức là vần ở giữa 
dòng thơ: 
“Ồ đâu phải, qua đêm dài lạnh cóng 
Mặt trời lên là hết bóng mù sương! 
Ôi đâu phải, qua đoạn đường lửa bong 
Cuộc đời ta bỗng chốc hóa thiên đường” 
(Tố Hữu) 
 + Vẻ đẹp trùng điệp của ngôn ngữ thơ không chỉ do hiệp vần, do cách phối âm mà còn 
do nhà thơ có ý thức láy đi láu lại một số âm, một số tiếng nào đó. 
VD: trong bài Thề non nước gồm 22 dòng, chữ “non” được nhắc lại 15 lần, chữ “nước” 13 
lần tạo một ấn tượng vương vấn không dứt. 
Ngôn từ thơ có tính nhảy vọt, gián đoạn tạo thành những khoảng lặng giàu ý nghĩa 
Ngôn từ trong thơ thường phá vỡ logic kết hợp thông thường để tạo thành những kết hợp 
mới bất ngờ theo nguyên tắc lạ hóa. VD bài Đàn ghi-ta của Lor-ca: 
“những tiếng đàn bọt nước 
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt 
li- la, li- la, li- la 
đi lang thang về miền đơn độc 
với vầng trăng chuếnh choáng 
trên yên ngựa mỏi mòn” 
Thanh Thảo kết hợp các hình ảnh: tiếng đàn. Tây Ban Nha, hình tượng người nghệ sĩ đi 
“lang thang” tưởng như không có logic nhưng thực ra đã nói lên mối quan hệ giữa cái đẹp, 
nghệ thuật với đời sống chính trị đương thời. Tiếng đàn Lor-ca đứng trước nguy cơ đầy bất 
trắc. 
Ngôn ngữ phức hợp 
Ngôn ngữ thơ trữ tình không phải là ngôn ngữ tuyến tính mà là ngôn ngữ phức hợp. Vì thế 
làm thơ phải thả hồn theo cảm xúc chứ không phải dừng lại ở mặt chữ. 
Do đặc điểm ngôn từ thơ hàm súc như vậy nên quá trình khám phá thơ phải công phu: đi từ lớp ngữ nghĩa, lớp hình ảnh, lớp âm thanh nhịp điệu để tìm hiểu hết nghĩa đen, nghĩa 
bong Có khi điều bài thơ gợi ra quan trọng hơn điều nói rõ. 
Người Trung Quốc xưa nhận xét: “ Thơ hay như người con gái đẹp, cái để làm quen là nhan 
sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài là đức hạnh”, “chữ nghĩa là nhan sắc của thơ, tấm 
lòng mới là đức hạnh của thơ”. Còn Xuân Diệu cho rằng: “Tôi muốn sáp nhập thơ ca vào 
lĩnh vực của âm nhạc” 
1. Về nội dung
Thơ trữ tình hay một tác phẩm trữ tình nói chung đều tập trung thể hiện thế giới chủ quan 
của con ngừoi, cảm xúc, tâm trạng. ý nghĩ một cách trực tiếp. Tuy nhiên không có nghĩa là 
không phản ánh thế giới khách quan. Các sự kiện được gián tiếp tái hiện thông qua những 
tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật. Như vậy, biểu hiện trực tiếp của những cảm xúc, 
suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình nói chung hay của 
thơ trữ tình nói riêng. 
 Trong bài Quê Hương của nhà thơ Đỗ Trung Quân, ta có thể thấy một tình yêu quê hương 
tha thiết, thắm nồng bắt nguồn từ những điều bình dị nhất trong cuộc sống đã kết lại làm 
nên một quê hương tuyệt vời. Đồng hành với cảm xúc xúc động trước vẻ đẹp thanh bình của 
quê hương, tác giả còn tái hiện là những bức tranh quê hương rất Việt Nam. Đó là những 
cảnh tượng có thật, những con người vô danh nhưng có thật, một thế giới khách quan luôn 
luôn tồn tại trong đời sống cũng như trong bài thơ.
2. Nhân vật trữ tình
Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực 
tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả. Nhân vật trữ tình trong thơ thường là hiện thân tác 
giả. Đọc thơ, ta như đọc những bản tự thuật tâm trạng. Ta hiểu hơn đời sống nội tâm của họ 
với những chi tiết về quê hương, về kỉ niệm cuộc sống, về cá tính sáng tạo.
 3. Đặc điểm ngôn ngữ thơ trữ tình
Nếu như giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường nét là ngôn ngữ của 
hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn ngữ là chất liệu của tác phẩm văn 
chương. Macxim Gorki đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Tuy nhiên tùy 
vào đặc trưng thể loại, ngôn ngữ trong mỗi loại thể văn hoc có những đặc điểm riêng.Là 
nghệ thuật “lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Jakobson), ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt quan 
trọng trong thơ.Đó là thứ ngôn ngữ được trưng cất công phu vì “bài thơ là tổ chức ở trình độ 
cao của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ tinh tế của ngôn ngữ”.Ngôn ngữ thơ là một phương 
tiện hình thức luôn được coi trọng, là một giá trị không thể phủ nhận trong yếu tính thơ, vì 
“thơ tức là phần tinh lọc nhất của ngôn ngữ”.Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập 
trung nhất tính hàm xúc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu hình ảnh, sắc màu (tính họa) 
vừa giàu nhạc điệu (tính nhạc).Các đặc điểm trên hòa quện với nhau tạo nên hình tượng thơ 
lung linh, đa nghĩa.
 Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu hình ảnh, sắc màu. Hình ảnh thơ bao giờ cũng là sự kết 
tinh của việc sử dụng ngôn ngữ.Vì thế hình ảnh thơ luôn có ý nghĩa trong việc tạo hiệu ứng 
nghệ thuật, góp phần khẳng định sự hiện hữu của thơ.Vì ‘thơ là biểu tượng, là hình ảnh. Thơ 
tạo dựng một vũ trụ qua trung gian biểu tượng một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa 
trong tính cách phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực của nó. Hơn đâu 
hết, biểu tượng hình ảnh là điều kiện của thơ, lý do tồn tại của thơ, biểu tượng chính của thơ” (Huỳnh Phan Anh). Như vậy dù là tiếng vọng từ tâm linh, là tiếng gọi từ trong vô thức 
thì thơ cũng phải tồn sinh dựa vào nhiều phương thức biểu hiện, trong đó không thể không 
có ngôn ngữ và hình ảnh - những thi liệu đầu tiên mà người đọc chạm tới trước khi bước 
vào khám phá thế giới mộng mị và hư ảo của thơ. “Thơ là vũ trụ những hình ảnh có giá trị 
một sự mê hoặc, một thứ ma thuật.Nó biến thành hình ảnh của chính hình ảnh”. Nhưng 
“Thơ không là thực tại, không là tổng số những hình ảnh xác định một thực tại rõ ràng. Nó 
là một ước muốn hơn thế nữa là một đam mê mù quáng cũng nên” (Huỳnh Phan Anh). Rõ 
ràng, hình ảnh thơ không phải là tổng số của nhiều hình ảnh mà chính sự chọn lọc những 
hình ảnh có giá trị biểu cảm, có tính hàm súc, tạo hiệu ứng nghệ thuật cao, mới thể hiện tư 
tưởng, tinh thần lập ngôn và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Nhà thơ không nói bằng 
phạm trù của tư duy lô-zic như trong các môn khoa học tự nhiên mà thông qua hình ảnh cụ 
thể để diễn đạt những ý niệm trừu tượng.
Nhà thơ Tố Hữu viết về bốn mùa (đông, xuân, hè, thu) ở Việt Bắc bằng ngôn ngữ giàu tính 
họa (có người gọi đây là bức tranh tứ bình):
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Khương Hữu Dụng viết Một tiếng chim kêu sáng cả rừng (Hành quân qua đèo Hải Vân) tạo 
cảm giác như ta vừa bước từ bóng tối ra ánh sáng, thật sung suớng. Hay như Nguyễn Duy 
trong bài “Lời ru đồng đội”, viết: 
Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bưng
Gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm
Có người ngủ thế thành quen
Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình.
Có nhà thơ so sánh mái tóc dài của thiếu nữ khá độc đáo: Tóc em dài như một tiếng chuông 
ngân. (chuyển từ quan sát bằng thị giác sang thính giác). Hay Trần Đăng Khoa cảm nhận 
được âm thanh rất nhẹ của chiếc lá đa rơi trong bài “Đêm ngủ ở Côn Sơn”: Ngoài thềm rơi 
chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng... (chuyển sự cảm nhận từ thính giác sang 
thị giác). Tất cả những câu thơ trên đều gợi liên tưởng, tạo hình tượng khá rõ.Nếu không có 
trí tưởng tượng kỳ diệu thì khó mà viết được những câu thơ như thế. Để có được những từ 
ngữ “lóe sáng” đó, ngoài vốn từ vựng phong phú, nhà thơ còn phải biết kết hợp các biện 
pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, điệp từ, tượng trưng, nói quá, nói 
giảm...trong cách diễn đạt.
Chế Lan Viên viết về nỗi nhớ một cách trực tiếp thật đẹp qua một loạt hình ảnh so sánh 
trùng điệp gợi trường liên tưởng rộng:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
(Tiếng hát con tàu)
Nỗi nhớ trong tình yêu giữa anh với em là tất yếu như quy luật đất trời đông về nhớ rét . 
Còn tình yêu ta quý như cánh kiến hoa vàng- một thứ đặc sản của núi rừng Tây Bắc và đẹp 
như sắc biếc lông chim lúc xuân sang. Tác giả đã cụ thể hóa khái niệm trừu tượng là tình 
yêu thành những hình ảnh gần gũi, quen thuộc với con người, nhất là người miền núi.
Ở một bài khác, ông lại bộc lộ nỗi nhớ sâu lắng hơn, trăn trở và da diết hơn:
Anh nhớ em như đất liền xa cách bể
Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em
Em thân thuộc sao thành xa lạ thế
Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm.
Không tin vào cuộc sống, không tin vào tình yêu, tất cả trước mắt chỉ là một màu xanh ảm 
đạm, Nguyễn Bính tìm tới cá quán trọ bên đường, tới chiếc lá khoai để so sánh với tình yêu 
vô vọng: 
Lòng em như quán bán hàng
Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi
... Lòng em như chiếc lá khoai
Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu.
(Hai lòng)
Ta có thể bắt gặp vô vàn những hình ảnh so sánh ví von tạo hình ảnh độc đáo trong thơ 
Xuân Diệu: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần, Tóc mịn đầy tay như suối mát, Lá liễu 
dài như một nét mi, Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ, Mây đa tình như thi sĩ thời xưa, 
Cuộc đời cũng đìu hiu như dặm khách. Mà tình yêu như quán trọ ven đường...
Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm. Như nhịp đập của trái tim khi 
xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó. Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ 
biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy.Có thể 
xem tính nhạc là nét đặc thù rất cơ bản của ngôn ngữ thơ.
“Nhạc điệu là một yếu tính của thi ca. Thiếu nhạc tính thơ trở thành văn xuôi” (Bằng 
Giang). Bởi nhạc tính như một nét duyên thầm làm nên vẻ đẹp của thơ, cũng là một yếu tố 
tạo mỹ cảm cho người đọc.“Ly khai với nhạc tính, thơ chỉ còn là một nhan sắc trơ trẽn thiếu 
duyên” (Tam Ích).Và “Thơ là sự phối hợp của âm thanh”.Thơ bao giờ cũng là sự kết hợp 
hài hòa giữa ý và nhạc.Nếu “rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan. Rơi vào 
cái vực nhạc thì thơ dễ làm say lòng người nhưng dễ nông cạn” (Chế Lan Viên). Rõ ràng, 
nhạc tính là tiếng nói linh diệu của thi ca, gợi thức trí tưởng tượng của người đọc, nói như 
La Fontaine “Chẳng có thơ nào không có nhạc”. Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể lọa nào khác, 
ngôn ngữ thơ với tính cách là một thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm, 
tiết tấu, giàu từ láy âm, tượng hình, chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc. Nhạc tính trong 
thơ được tạo nên từ nhiều yếu tố như nhịp điệu, cách gieo vần, phối thanh 
Vần là sự lặp lại những âm thanh tương tự để tạo chỗ dựa cho nhạc tính.Thơ có vần chính 
và vần thông. Vần chính là vần cùng một khuôn âm, vần thông là theo một khuôn âm tương tự. Xét về vị trí vần, còn chia ra vần chân và vần lưng. Thơ tự do ngày nay không bó buộc 
về hiệp vần, nhưng các nhà thơ vẫn sử dụng vần như một yếu tố biểu cảm làm tăng vẻ đẹp 
của thơ:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn
VD:
Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.
Độc câu tho ta thay câu thơ như níu kéo, lưu giữ lấy nhau trong từng đoạn hay cả bài thơ tạo 
nên sự trầm lắng, mênh mông, bang khuâng, da diết của cái buồn trong đoạn thơ, góp phần 
biểu đạt một cách hiệu quả tâm trạng nhân vật trữ tình.
Tố Hữu lặp lại vần ngay trong một dòng thơ khiến câu thơ như ngân lên điệu nhạc du 
dương, man mác.
Nếu ngôn ngữ và hình ảnh là những yếu tố song hành thì âm điệu cũng là yếu tố đồng hành 
với tính nhạc.Nói một cách hình ảnh, nếu ngôn ngữ là sợi dây đàn thì nhạc tính và âm điệu 
là những cung bậc thanh âm ngân lên từ sợi dây đàn ấy.Việc kiến tạo âm điệu trong thơ 
cũng chính là kiến tạo nhạc tính. Và âm điệu cũng là chiếc cầu nối thơ với người đọc, dẫn 
dụ người đọc đi vào thế giới màu nhiệm của thơ ca. Các câu thơ sau sở dĩ “đầy nhạc” chính 
vì sự tập trung dày đặc các nguyên âm mở và phụ âm vang tạo âm điệu cho thơ:
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận (Nguyệt cầm – Xuân Diệu)
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử)
Nam đình nghe động trống chầu đai doanh. (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Nhạc thơ chủ yếu còn do các thanh điệu tạo nên. Xuân Diệu viết hai dòng toàn bằng để gợ 
tả điệu nhạc du dương đưa tâm hồn phiêu diêu bay bổng khi nghe Nhị Hồ:
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.
Câu thơ của Bích Khê sở dĩ đầy nhạc tính như ta cảm thấy chính là vì đã tập trung được các 
thanh bằng một cách dày đặc nhất:
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông 
(Tỳ bà)
Tản Đà trong hai câu thơ: 
Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương Đã sử dụng một nhịp điệu đặc biệt trên cơ sở tương phản về thanh điệu như hai vế đối lập. 
Câu trên là một tình thế bất công, một cảnh ngộ uất ức.Câu thơ bị dồn chặt, đóng chặt bởi 
những từ ngắn mang thanh trắc giống như uất ức bị nén lại.Câu thơ sau là một hướng giải 
quyết tiêu cực và buông xuôi, toàn bộ câu thơ trôi đi trên thanh bằng như một sự buông tỏa, 
giải thoát, không có phương hướng, không có gì níu giữ lại.Câu thơ thứ nhất với chủ âm 
thanh trắc, câu thơ thứ hai chủ âm thanh bằng diễn đạt được trạng thái buông xuôi của nhà 
thơ, chính âm thanh của chữ nghĩa đã tạo nên những điều mà chữ nghĩa không nói hết.
Nói đến yếu tố tạo tính nhạc cho thơ phải kể đến vai trò của nhịp điệu. Maiacovki từng 
khẳng định: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lượng cơ bản của câu thơ”. Câu thơ và 
vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp 
điệu và sự cân đối.” (Isokrate). Theo giáo sư Hà Minh Đức: “Nhịp điệu là kết quả của một 
sự chuyển động nhịp nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đó ở trong thơ.”. Nhịp 
thơ có thể dài, ngắn, đọc lên có thể nhanh hay chậm phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc:
Nhiều đấy ư em/ mấy tuổi rồi?
- Hai mươi.
- ờ nhỉ/ tháng năm trôi
Sóg bồi thêm bãi / thuyền thêm bến
Gió lộng đường khơ/ rộng đất trời!
(Tố Hữu)
ở ba dòng đầu bị cắt ra nhiều nhịp như sự dừng lại sững sờ ngạc nhiên trước sự đổi thay của 
thời đại. Dòng 4,5 nhịp dài ra như niềm vui trải rộng.
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, tính nhạc là một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ ca. 
Chính vì đặc điểm này mà rất nhiều trường hợp các nhạc sĩ sử dụng ngay những bài thơ có 
sẵn làm chất liệu sáng tác cho bài hát của mình. Vô số những bài thơ phổ nhạc được nhiều 
người yêu thích và có sức sống khá bền lâu như: Vàm cỏ đông (Thơ Hoài Vũ), Tình ca Tây 
Bắc ( thơ Cẩm Giàng), Tiếng đàn bầu ( Thơ Lữ Giang), Bóng cây kơnia ( dịch thơ dân tộc 
Hrê) 
Khác với văn xuôi, thơ ca chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái 
vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều thầm kín 
trong tâm linh con người (Hữu Đạt). Dovậy, ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập 
trung nhất tính hàm súc phong phú của ngôn ngữ.
Thơ là thể loại “ý tại ngôn ngoại”.Việc kiệm lời, kiệm chữ là một yêu cầu tối quan trọng đối 
với nhà thơ. “Thơ cốt ở ý, ý cốt sâu sa thì thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì phải nói 
ra bằng lời thì mới là thơ có giá trị. Ý hết mà lời dừng là cái lời hết mực song lời dừng mà ý 
chưa hết thì lại càng hay tuyệt” (Hải Thượng Lãn Ông).
Mỗi từ ngữ trong câu thơ phải diễn tả được đúng điều mà nhà thơ nhìn thấy, cảm thấy và 
những điều sẽ thấy.Lựa chọn được một từ ngữ “đắt” để diễn đạt một ý không phải lúc nào 
cũng suôn sẻ. Nói như Maiacôpxki, quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống như 
người lọc quặng radium:
Lấy một gam phải mất hàng năm lao lực. Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ.
Trong một trường liên tưởng của từ ngữ có nhiều từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa..., 
người viết cần liệt kê vài từ để chọn. Tản Đà đã suy nghĩ rất nhiều khi chọn từ “khô” để đưa 
vào câu thơ: Non cao những ngóng cùng trông/ Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày (Thề 
non nước). Nếu thay từ khô bằng từ tuôn, hay từ trôi thì hiệu quả sẽ như thế nào?
Hay từ “ép” trong câu: Tuổi già hạt lệ như sương/ Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan là một 
“nhãn tự” (mắt chữ) trong bài Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Ta bắt gặp trong 
Nguyễn Du, một bậc thầy về ngôn ngữ thơ ca, những sáng tạo kỳ diệu. Chỉ trong một câu 
thơ ngắn Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, với chỉ một từ tót thôi, Nguyễn Du đã giết chết tên Giám 
Sinh họ Mã (Hoài Thanh). Hay Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào.Với một từ lẻn, Nguyễn 
Du đã lột trần bản chất con người Sở Khanh.
Hàm súc và giàu sức biểu hiện, ngôn ngữ thơ ca cô đúc, chặt chẽ với sỗ từ rất hạn định 
nhưng năng lực biểu hiện lại rất lớn.Vấn đề đặt ra với mỗi nhà thơ là phải chọn một cách 
nói tốt nhất đến mức đô người ta cảm thấy không thể khác được.
 4. Không gian và thời gian trong thơ trữ tình:
Không gian trong thơ trữ tình là nơi tác giả - cái tôi trữ tình hoặc nhân vật trữ tình xuất hiện 
để thổ lộ tấm long cũa mình. Không gian thường gắn với địa điểm chỉ nơi chốn như: cây đa, 
bến đò,mái đình, giếng nước, núi cao, biển sâu, trời rộng , song dài Nhiều địa danh riêng 
đã trở thành những không gian tượng trưng văn học như: Tiêu tương, Tầm Dương, Cô Tô, 
Xích Bích, Tây Thiên, Địa Ngục, Thiên Đường, Bồng Lai, Tiên Cảnh, Cõi Phật, SuốI 
vàng .
Thơ hay bao giờ cũng là cuộc hôn phối kỳ diệu giữa âm thanh và ý nghĩa, hình ảnh. Chữ 
và nghĩa trong ngôn ngữ thi ca hòa quyện với nhau như hình với bóng, như xác với hồn nên 
việc tách rời chúng ra khỏi nhau sẽ làm tổn hại đến bình diện ngôn ngữ và thẫm mỹ của câu 
thơ.Thơ không phải là một mớ lý thuyết mà là một thực thể ngôn ngữ,.Và thơ ca ám ảnh 
người đọc phải chăng cũng vì vẻ đẹp toát ra từ “thực thể ngôn ngữ” ấy. Vũ trụ tâm hồn thi 
nhân có hòa điệu với tâm hồn người đọc không, có “tri âm” với người tiếp nhận hay không, 
tất cả phải thông qua chiếc cầu ngôn ngữ, nói như Bùi Giáng “thi ca vẫn có sức đưa dẫn 
người ta vào giữa huyền nhiệm của cuộc sống. Ngôn ngữ thơ bao giờ cũng là hóa công của 
người nghệ sĩ.Mỗi chữ trong thơ đều là sự vang vọng từ tâm hồn thi nhân.Vì “Thực chất của 
thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng.
 5. Thơ được biểu hiện bằng biểu tượng, ý tượng
Thơ biểu hiện bằng biểu tượng mang ý nghĩa, các ý tượng, hình ảnh có ngụ ý. Ví dụ như 
trong bài ca dao Đêm qua ra đứng bờ ao, những bờ ao, cá lặn, sao mờ, nhện giăng, sao 
mai đều là biểu tượng. Biểu tượng thơ thường gián đoạn, không liên tục, có nhiều khoảng 
trống, khoảng trắng. Ví dụ như trong bài thơ Đây thôn vĩ dạ của Hàn Mặc Tử giữa các khổ 
đều có những khoảng trắng đầy dư vị. Khổ một là biểu tượng của lời mời tha thiết và đồng 
cảm, khổ hai là biểu tượng của sự chia lìa ngăn cách, khổ ba là biểu tượng của sự mong đợi 
và hoài nghi. Biểu tượng cho phép thơ không phải kể lể, không chạy theo tính lien tục bề 
ngoài mà nắm bắt thẳng những hình ảnh cô đọng nhất, giàu hàm ý nhất.
Mỗi loại thơ có những biểu tượng riêng. Nhật, nguyệt, tùng, cúc, mai ..trong thơ cổ; bờ ao, 
giếng nước trong ca dao; trái tim, đôi môi, bờ vai trong thơ lãng mạn.
Đồng thời, còn một số đặc điểm khác cũng khá nổi bật trong thơ trữ tình như cảm hứng 
mãnh liệt, nghệ thuật trùng điệp, khoảng trống, âm vang, Không thiên về trình bày tư duy, cảm hứng trữ tình của thơ được thu gọn, đau đáu trong tâm 
trí người viết (không dàn trải ngổn ngang, không chất chứa quá nhiều sự việc, ), xuất phát 
từ chính bản thân mình, cảm hứng mãnh liệt tất nhiên phải hướng về nhân sinh, về thế giới.

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_an_nang_cao_ngu_van_7_tuan_23_tiet_64_66_mot_so_yeu_to.doc