Giáo án Nâng cao Ngữ văn 7 - Tuần 13 - Năm học 2020-2021

doc 4 trang Người đăng Mạnh Chiến Ngày đăng 13/12/2025 Lượt xem 5Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Nâng cao Ngữ văn 7 - Tuần 13 - Năm học 2020-2021", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Tuần: 13 ; Tiết: 37,38,39 Ngày soạn: 22/11/2020
 Chuyên đề 10: THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM (1945-1975) - T2,3,4 
I. Mục tiêu:
 1. Kiến thức: Những nét chính về nội dung và nghệ thuật của các bài thơ hiện đại 
Việt Nam đã học, đã đọc trong và ngoài chương trình ngữ văn lớp 7.
 2. Kĩ năng: 
 - Đọc diễn cảm thơ. 
 - Cảm nhận cái hay, cái đẹp của các bài thơ đã học, đã đọc trong và ngoài chương 
trình.
 - Trình bày suy nghĩ về chủ đề của các bài thơ hiện đại Việt Nam đã học, đọc.
 3. Thái độ: Yêu thơ, thích đọc thơ, ngâm thơ, sáng tác thơ.
II. Chuẩn bị: Thầy: SGK, SGV, giáo án, tài liệu giảng dạy nâng cao của SGD&ĐT 
Bạc Liêu, một số sách nâng cao Ngữ văn 7.
 Trò: Soạn bài, chuẩn bị các tài liệu theo hướng dẫn của GV. 
III. Các bước lên lớp:
 1. Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, vệ sinh lớp học 
 2. KTBC: Trong quá trình học. 
 3. Nội dung bài mới: 
 Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung cơ bản
HĐ 1: Thực hành luyện tập.
 III. Thực hành:
GV cho HS đọc diễn HS đọc 1. Đọc diễn cảm thơ:
cảm 3 bài thơ hiện đại - Bài thơ Cảnh khuya, Rằm tháng 
Việt Nam trong chương Nhận xét giêng của Hồ Chí Minh
trình Ngữ văn 7 - Bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân 
 Quỳnh. 
 2. Cảm nhận cái hay, cái đẹp của 
 các bài thơ đã học:
Bài tập1: Bài tập1:
Cảm nhận của em về vẻ MB: Giới thiệu hoàn cảnh sang tác 2 
đẹp của ánh trăng trong bài thơ, nêu cảm nhận chung: ở mỗi 
hai bài thơ Cảnh khuya HS lập dàn ý bài vẻ đẹp của ánh trang đẹp theo một 
 và Rằm tháng giêng của góc chiếu khác nhau.
Hồ Chí Minh. TB: 
 - Ở bài Cảnh khuya, trăng được quan 
 sát dường như một tầm nhìn hẹp. Ánh 
 Triển khai thành trăng không hiện lên bằng cả một 
GV yêu cầu HS nêu định văn nói, trình bày vầng sáng tròn đầy mà lại được cảm 
hướng bài làm. trước lớp nhận theo một chiều kích khác: hòa 
 quyện, gần gũi nhưng chất chứa suy 
 tư.
 - Ở bài Rằm tháng giêng, trăng xuân, 
GV hướng dẫn HS lập HS khác nhận xét, tròn đầy viên mãn. Ánh trăng tràn đầy dàn ý. bổ sung. sức sống và niềm lạc quan tin tưởng.
 KB: Khẳng định vẻ đẹp trong thơ 
 Bác.
Bài tập2: Phát biểu cảm Bài tập2: Dàn ý 
nghĩ của em về tình bà HS lập dàn ý MB: Giới thiệu nhà thơ Xuân Quỳnh 
cháu trong bài thơ và bài thơ “Tiếng gà trưa”. Nêu cảm 
“Tiếng gà trưa” của nhận chung về tình cảm bà cháu thân 
Xuân Quỳnh. thiết, thiêng liêng trong bài thơ.
 TB:
 Triển khai thành - Hoàn cảnh của người lính: đang trên 
GV yêu cầu HS nêu định văn nói, trình bày đường hành quân xa, trưa nắng; dừng 
hướng bài làm. trước lớp chân nghỉ bên xóm nhỏ, tiếng gà vang 
 lên giữa trưa nắng “gọi về tuổi thơ”.
 - Những hồi ức về tuổi thơ, về tình 
 cảm giản dị mà sâu nặng của bà.
GV hướng dẫn HS lập HS khác nhận xét, KB: Tình yêu bà, nỗi nhớ tuổi thơ đã 
dàn ý. bổ sung. khơi nguồn cho tình yêu đất nước 
 thiêng liêng, sâu lắng của người chiến 
 sĩ.
GV cho HS trình bày suy Trình bày 3. Trình bày suy nghĩ về chủ đề của 
nghĩ của bản thân về chủ các bài thơ hiện đại Việt Nam đã 
đề của các bài thơ. Nhận xét học.
 BÀI TẬP 2 
 Bài làm (tham khảo) 1:
 Cảnh khuya và Rằm tháng giêng đều được viết vào thời kỳ Bác đang chỉ đạo cuộc 
kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc. Hai bài thơ cũng đều viết về trăng thế 
nhưng mỗi bài mỗi vẻ. Hình ảnh ánh trăng trong mỗi bài cũng vì thế mà đẹp theo một 
góc chiếu khác nhau.
 Ở bài Cảnh khuya, trăng được quan sát dường như một tầm nhìn hẹp. Ánh trăng 
không hiện lên bằng cả một vầng sáng tròn đầy mà lại được cảm nhận theo một chiều 
kích khác. Nó phủ trùm lên những tán cây, chiếu rọi rồi rơi rớt, lan tỏa hàng trăm ngàn 
đốm sáng trên mặt đất. Trăng quyện hòa gần gũi và tràn đầy sức sống “Trăng lồng cổ thụ 
bóng lồng hoa”. Đêm thanh tĩnh, cảnh vật cũng tĩnh đến nỗi chúng ta có thể nghe thấy 
tiếng suối hát rất trong. Cảnh ấy, tình ấy khiến chúng ta nghĩ đến vẻ đẹp cổ điển của ánh 
trăng. Trăng với người ở đây dường như đang đối ứng và đối ẩm. Trăng chia sẻ với 
người và người dường như cũng đang muốn tâm sự cùng trăng.
 Trăng ở Nguyên tiêu cũng ở trong cảnh tĩnh nhưng nó không chất chứa suy tư. 
Không giống với Cảnh khuya, trăng ở đây thoáng rộng, phóng khoáng và tràn trề sức 
sống hơn: Rằm xuân lồng lộng trăng soi
 Trăng xuân, lại là trăng của đêm rằm chính vì thế mà nó tròn đầy viên mãn. Ánh 
trăng tràn trên khắp mặt sông rồi quện hòa vào cái sức sống của đất trời sông nước. Cái 
hay cái đẹp của trăng ở bài thơ này không chỉ là sự thi vị mà còn là ở cái sức xuân, cái 
niềm lạc quan tin tưởng mà nó đang tiếp vào lòng người chiến sĩ. Trăng ở đây thực sự đang chắp cánh bay lên cho những vần thơ.
 Có thể nói dù được viết trong những hoàn cảnh khó khăn của cuộc kháng chiến, 
thế nhưng ở cả hai bài thơ, chúng ta đều thấy hiện lên vẻ đẹp tâm hồn của Bác, Đó là 
một tâm hồn lạc quan, yêu đời và tha thiết đối với thiên nhiên. Đó cũng là một tâm hồn 
luôn canh cánh một nỗi niềm vì dân vì nước. Đọc thơ Bác, chúng ta cảm nhận được vẻ 
đẹp của một cốt cách thanh cao. Bác yêu nước, thương dân và Người cũng luôn sống với 
thiên nhiên đậm đà, sâu sắc.
 Thơ Bác giản dị, tự nhiên, hồn hậu và trong sáng. Vì thế những vần thơ của Bác 
bao giờ cũng chan hòa, dễ khơi gợi niềm thích thú và tình yêu trong lòng mỗi chúng ta.
 Bài làm (tham khảo) 2:
 “Bà” - Một tiếng gọi bình dị mà chan chứa bao tình cảm yêu thương. Hình ảnh 
người bà thân quen trong cuộc sống, hiền hậu ôn tồn chỉ bảo cho con cháu nhân đạo và 
lẽ đời. Người bà luôn yêu thương, quan tâm và lo lắng cho những đứa cháu nghịch 
ngợm.... Ta có thể tìm được một người bà như thế trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân 
Quỳnh. Bài thơ đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Đặc biệt là vẻ đẹp bình dị của 
tình bà cháu.
 Bài thơ năm chữ tự do đã cho ta thấy những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ, tình bà cháu 
nồng hậu và lòng yêu nước sâu nặng của một người chiến sĩ.
Trên đường hành quân xa, người chiến sĩ dừng chân bên xóm nhỏ. Nghe tiếng gà “cục 
tác... cục ta”, anh xúc động vô cùng. Dòng cảm xúc từ hiện tại trôi về quá khứ với bao 
kỉ niệm cảm động lại tràn về.
 Nghe xao động nắng trưa
 Nghe bàn chân đỡ mỏi
 Nghe gọi về tuổi thơ.
 Tác giả đã dùng điệp từ "nghe" để nhấn mạnh nỗi xúc động của người chiến sĩ
khi nghe tiếng gà trưa.Từ nghe ở đây không chỉ bằng thính giác mà còn bằng cảm giác, 
sự tâm tưởng, sự nhớ lại.... Tiếng gà trưa gợi nhớ bao kỉ niệm đẹp thời thơ ấu được sống 
trong tình yêu thương của người bà, giúp cho người lính trẻ vơi đi sự mệt mỏi trên quãng 
đường hành quân. Ta có thể cảm nhận được tình yêu quê hương thắm thiết của người 
lính trẻ. 
 Trong năm khổ thơ giữa, tiếng gà trưa đã gợi nhớ bao kỉ niệm sâu sắc một thời thơ 
bé sống trong tình yêu thương của bà. Quên sao được lời mắng yêu chân thật, giản dị mà 
chan chứa bao tình thương của bà:
 “Gà đẻ mà mày nhìn
 Rồi sau này lang mặt.”
 Sợ bị lang mặt, “cháu về lấy gương soi, lòng dại thơ lo lắng”. Kỉ niệm rất đỗi đời 
thường, bình dị mà sâu sắc, chân thật. Bà luôn chịu thương chịu khó, chắt chiu, lo cho 
đàn gà:
 Tay ba khum soi trứng
 Dành từng quả chắt chiu
 Cho con gà mái ấp.
 Cứ mùa đông hằng năm, bà lại “lo đàn gà toi, mong trời đừng sương muối để cuối 
năm bán gà” và mua quần áo mới cho cháu. Ôi cái quần chéo go
 Ống rộng dài quét đất
 Cái áo cánh trúc bâu
 Đi qua nghe sột soạt.
 Khi được quần áo mới, người cháu vui sướng vô cùng. Người cháu không hề chê 
ống quần rộng, áo trúc bâu vì hiểu được sự vất vả và tình yêu thương của bà dành cho 
mình.
 Cháu chiến đấu hôm nay
 Vì lòng yêu Tổ quốc
 Vì xóm làng thân thuộc
 Bà ơi, cũng vì bà
 Vì tiếng gà cục tác
 Ổ trứng hồng tuổi thơ.
 Tác giả đã dùng điệp từ “vì” để nhấn mạnh nguyên nhân khiến người chiến sĩ ra đi 
chiến đấu. Không phải bắt nguồn từ những nguyên nhân to lớn nào khác mà chính là vì 
bà, nơi quê hương thân thuộc có tiếng gà cục tác, ổ trứng hồng tuổi thơ.
 Âm thanh tiếng gà trưa bình dị mà thiêng liêng được lặp lại bốn lần xuyên suốt 
trong bài thơ như nhắc nhở, lay gọi bao tình cảm đẹp. Ta có thể thấy được tình cảm gia 
đình làm sâu sắc thêm tình yêu quê hương đất nước rộng lớn của người chiến sĩ. Một 
tình bà cháu đẹp đẽ, nồng hậu và ấm áp! Tiếng gà trưa không chỉ là âm thanh quen thuộc 
từ đời sống của mỗi làng quê mà còn là âm vang của kỉ niệm, những hồi ức đẹp.
 Hình ảnh người bà trong bài thơ khiến cảm xúc trong người tôi dâng trào, nhớ tới 
người bà đã khuất của mình. “Tiếng gà trưa” thực là một bài thơ hay!
 4. Củng cố: GV chốt lại nội dung bài học, tổng kết chuyên đề.
 5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập và soạn bài mới ở nhà: 
 Ôn tập về thành ngữ để chuẩn bị cho tiết học sau.
IV. Rút kinh nghiệm:
 . ...................................
 Ký duyệt
 Ngày 25 tháng 11 năm 2020
 ND: 
 PP: .
 Nguyễn Thị Định

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_an_nang_cao_ngu_van_7_tuan_13_nam_hoc_2020_2021.doc